GiongQuy.comGiống Quý
Cá và thuỷ sản bản địa

Cá lăng chấm nhận biết thế nào: phân biệt với lăng vàng, lăng nha và cá chiên

Cá lăng chấm có chấm đen rải trên thân xám, bốn đôi râu, vây mỡ dài, sống ở sông lớn phía Bắc. Cách phân biệt với lăng vàng, lăng nha, cá chiên và nguồn giống.

Early morning at a freshwater fish hatchery in northern Vietnam, gloved hands lifting a grey spotted catfish from a concrete tank, steam rising from the water

Cá lăng chấm nhận biết qua ba điểm: thân xám tro hoặc xám xanh có nhiều chấm đen nhỏ rải rác, bốn đôi râu với đôi râu hàm trên rất dài, và vây mỡ dài ở lưng sau. Đây là loài cá da trơn bản địa cỡ lớn của các sông lớn phía Bắc, tên khoa học thường ghi là Hemibagrus guttatus.

Thị trường gọi "cá lăng" cho nhiều loài khác nhau, từ lăng vàng, lăng nha ở Nam Bộ đến cá lăng nuôi nhập từ nơi khác. Cá chiên cũng hay bị gọi lẫn vì cùng là cá da trơn sông lớn. Với người nuôi và người giữ giống, phân biệt đúng loài là bước đầu tiên; bài này đi theo đặc điểm cơ thể, vùng sống và tình trạng giống nhân tạo của từng loài.

Cá lăng chấm là loài gì, sống ở đâu

Cá lăng chấm thuộc họ cá lăng (Bagridae), bộ cá da trơn. Loài phân bố ở hệ thống sông Hồng và các sông lớn phía Bắc như sông Đà, sông Thao, sông Lô, sông Chảy, sông Gâm, một số sông ở Đông Bắc và Bắc Trung Bộ. Cá cũng có mặt ở lưu vực các sông phía nam Trung Quốc, vì cùng một hệ thống tự nhiên.

Cá sống tầng đáy, ưa đoạn sông sâu, nước chảy vừa, đáy đá hoặc cát sỏi, có hang hốc để trú. Ban ngày cá thường nằm yên dưới đáy, kiếm ăn mạnh vào chiều tối và ban đêm. Thức ăn là cá nhỏ, tôm, côn trùng thuỷ sinh, giáp xác; cá lớn săn mồi khá dữ. Bốn đôi râu là bộ cảm giác giúp cá dò mồi trong nước đục và bóng tối, nên râu bị cụt, gãy khi vận chuyển sẽ ảnh hưởng tới khả năng kiếm ăn của cá trong những tuần đầu sau khi thả.

Nhiều tài liệu nghề cá ghi nhận cá lăng chấm từng là loài kinh tế quan trọng của sông Hồng, nhưng sản lượng khai thác tự nhiên giảm mạnh theo thời gian do đánh bắt quá mức, mất nơi sinh sản và các công trình chắn dòng. Đây là lý do loài được đưa vào chương trình nghiên cứu sinh sản nhân tạo từ khá sớm so với các loài cá bản địa khác.

So sánh cá lăng chấm với các loài hay bị gọi chung là cá lăng

Bảng dưới gom những dấu hiệu nhìn được bằng mắt. Đây là mô tả để nhận dạng sơ bộ; phân loại chính xác tới loài vẫn cần người có chuyên môn.

LoàiMàu thân, hoa vănĐầu, râu, vâyVùng sống chính
Cá lăng chấmXám tro, xám xanh, nhiều chấm đen nhỏ rải trên thânĐầu dẹp vừa, bốn đôi râu, râu hàm trên dài; vây mỡ dàiSông lớn phía Bắc
Cá lăng vàngVàng nhạt đến xám vàng, không có chấm đen rõBốn đôi râu, dáng thon hơnSông, kênh Nam Bộ
Cá lăng nhaXám bạc, vây đuôi thường ửng đỏBốn đôi râu, cỡ lớnSông Mekong và Đồng Nai
Cá chiênNâu vàng, có vằn sẫm, da nhámĐầu bẹt rộng, miệng rất to, vây ngực xoè rộng để bám đáGhềnh thác sông lớn miền núi
Cá ngạnhXám, nhỏ hơn nhiềuGai vây ngực, vây lưng nhọn, sắcSông suối nhiều vùng

Chấm đen trên thân là dấu hiệu nhanh nhất để tách cá lăng chấm khỏi lăng vàng và lăng nha. Tuy vậy, ở cá rất nhỏ hoặc cá vừa bị vận chuyển, màu thân có thể nhạt đi, chấm mờ. Khi đó nên quan sát sau khi cá đã ổn định trong nước trong.

Cá chiên: loài da trơn sông lớn cần thận trọng

Cá chiên (chi Bagarius) không cùng họ với cá lăng nhưng hay bị nhắc chung vì đều là cá da trơn cỡ lớn của sông miền núi phía Bắc. Cá chiên có đầu bẹt rộng, miệng rất to, thân có các vằn nâu sẫm xen vàng, da sần nhám, vây ngực rộng và khoẻ giúp cá bám đá ở khúc sông chảy xiết. Nơi sống là ghềnh thác, đáy đá, những chỗ mà ít loài cá khác chịu được dòng.

Nhiều tài liệu bảo tồn xếp cá chiên vào nhóm loài cần được bảo vệ ở Việt Nam. Vì vậy bài này không hướng dẫn khai thác hay mua cá chiên ngoài tự nhiên. Đã có các nghiên cứu thử nghiệm nuôi vỗ và sinh sản cá chiên, nhưng nguồn giống từ cơ sở còn hạn chế. Nếu được giới thiệu "cá chiên giống", bạn cần hỏi rõ nguồn gốc, đối chiếu với danh mục loài thuỷ sản nguy cấp, quý, hiếm hiện hành và hỏi cơ quan quản lý thuỷ sản cấp tỉnh trước khi mua.

Với người chỉ muốn nuôi cá da trơn bản địa, cá lăng chấm từ giống nhân tạo là lựa chọn có nguồn rõ hơn, kỹ thuật đã được tổng kết nhiều hơn.

Giống nhân tạo: từ trại nghiên cứu tới hộ nuôi

Cá lăng chấm là một trong những loài cá bản địa miền Bắc được nghiên cứu nuôi vỗ bố mẹ và cho sinh sản nhân tạo bởi các đơn vị thuỷ sản, trong đó có Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thuỷ sản I. Từ kết quả đó, cá giống được sản xuất ở một số trại và đi vào nuôi lồng trên sông, hồ thuỷ điện ở các tỉnh trung du, miền núi.

Khi chọn cơ sở giống, hãy hỏi những điều cho thấy họ thật sự hiểu loài: đàn bố mẹ lấy từ đâu và thay mới thế nào, cá bột ương bằng thức ăn gì, cá giống đã quen thức ăn công nghiệp chưa, tỷ lệ cá cỡ đều trong lô ra sao. Cá lăng chấm có tính ăn thịt, nên lô giống không đều cỡ dễ dẫn tới cá lớn ăn cá bé sau khi thả.

Về pháp lý, cơ sở sản xuất và kinh doanh giống thuỷ sản phải đáp ứng điều kiện theo Luật Thuỷ sản 2017 và văn bản hướng dẫn. Hộ nuôi nên giữ hoá đơn, giấy tờ nguồn gốc lô giống; đây vừa là quyền lợi khi có tranh chấp, vừa là bằng chứng truy xuất khi bán cá thương phẩm.

Điều riêng của cá lăng chấm khi nuôi

Cần chỗ trú. Cá quen nằm trong hang hốc dưới đáy. Trong lồng hoặc ao, ống nhựa, cành cây chìm, giá thể tạo bóng tối giúp cá bớt căng thẳng, giảm cắn nhau.

Ăn mạnh về đêm. Cho ăn vào chiều tối thường hiệu quả hơn ban ngày. Theo dõi lượng thức ăn thừa vào sáng hôm sau để chỉnh khẩu phần.

Tính ăn thịt. Không ghép cá lăng chấm với cá nhỏ hơn nhiều; phân cỡ khi thả và trong quá trình nuôi để giảm hao hụt.

Ưa nước sạch, nhiều oxy. Dù chịu được ao tốt hơn cá anh vũ, cá lăng chấm vẫn là cá sông. Ao tù, nhiều bùn đáy, nước nóng kéo dài làm cá dễ bệnh.

Da trơn dễ xây xát. Không có vảy bảo vệ, cá bị trầy khi kéo lưới, vận chuyển. Thao tác nhẹ tay, dùng lưới mềm, tránh dồn cá lâu trong chỗ chật.

Nhạy với thay đổi đột ngột. Nước đổi màu sau mưa lớn, nhiệt độ hạ nhanh khi có gió mùa, hay lồng bị dời chỗ đều làm cá bỏ ăn vài ngày. Giảm lượng cho ăn trong những ngày đó, tránh kéo lưới, chờ cá ổn định lại rồi mới tăng dần.

Kiểm một lô cá lăng chấm giống khi nhận

Cá giống nhỏ khó nhận loài bằng mắt, nhưng có những việc đơn giản giúp bạn bớt rủi ro mua nhầm hoặc nhận lô yếu:

  1. Xin xem cá trong bể trước khi đóng bao. Cá khoẻ nằm đáy, bơi lặn nhanh khi bị động, không lờ đờ trên mặt.
  2. Vớt vài con ra chậu nước trong, nhìn dưới ánh sáng tự nhiên: thân xám, đã thấy lấm tấm chấm sẫm, bốn đôi râu đủ, không cụt.
  3. Nhìn độ đều cỡ trong lô. Lô chênh lệch nhiều thì hỏi cơ sở có phân cỡ lại được không, vì cá lăng ăn thịt đồng loại nhỏ hơn.
  4. Hỏi cá đã quen thức ăn gì, cho ăn mấy lần một ngày ở trại, để bạn tiếp tục đúng nhịp đó trong tuần đầu.
  5. Nhận giấy tờ nguồn gốc lô giống, hoá đơn, ghi rõ tên loài; ghi ngày nhận và số lượng vào sổ ngay khi về.

Vận chuyển vào lúc mát, thả cá từ từ để cá quen nhiệt độ nước mới. Những ngày đầu cho ăn ít hơn khẩu phần trại báo, tăng dần khi thấy cá ăn hết.

Khi nào cần gọi cán bộ thú y thuỷ sản

Bài không hướng dẫn dùng thuốc. Những dấu hiệu sau là lúc bạn nên mời cán bộ thuỷ sản hoặc thú y thuỷ sản địa phương đến lấy mẫu:

  • Da cá có đốm trắng, mảng đỏ, vết loét lan rộng sau khi kéo lưới hay vận chuyển.
  • Cá bơi lờ đờ trên mặt nước ban ngày, trái với tập tính nằm đáy.
  • Râu cá bị cụt, thối dần; vây rách nhiều con cùng lúc.
  • Bụng trương, hậu môn đỏ, cá bỏ ăn kéo dài.
  • Cá chết rải rác sau mưa lũ hoặc khi nguồn nước đổi màu, có mùi.

Khi gọi, hãy cung cấp số liệu cụ thể: số cá chết mỗi ngày, cỡ cá, thức ăn đang dùng, thời điểm bắt đầu có dấu hiệu. Đừng tự ý dùng hoá chất theo lời mách trên mạng, vì cá da trơn nhạy với nhiều loại hoá chất hơn cá có vảy.

Phòng vẫn hơn chữa: phần lớn ca bệnh ở cá lăng nuôi lồng bắt đầu từ vết xước khi kéo lưới hoặc từ đợt nước xấu sau lũ. Giảm số lần kéo lưới, kiểm tra lưới lồng định kỳ để không có mép rách cọ vào cá, và theo dõi nguồn nước sau mưa lớn là ba việc rẻ tiền nhất mà hiệu quả nhất.

Giữ nguồn gen cá lăng chấm

Giữ nguồn gen cá lăng chấm là công việc của trại giống và đơn vị nghiên cứu: duy trì đàn bố mẹ đủ đông, lấy từ nhiều nguồn khác nhau, ghi chép phả hệ để hạn chế cận huyết. Hộ nuôi thương phẩm không nên giữ cá lại làm bố mẹ rồi tự cho đẻ, vì vừa khó về kỹ thuật vừa dễ làm giống thoái hoá qua vài thế hệ.

Một điều nữa: không thả cá lăng chấm nuôi ra sông theo kiểu phóng sinh hoặc khi lồng bị vỡ mà không báo. Cá nuôi có thể mang mầm bệnh và vốn gen hẹp, ảnh hưởng tới đàn cá tự nhiên. Khi lồng bị lũ cuốn, hãy báo chính quyền địa phương để có hướng xử lý.

Nếu bạn sống ven sông có cá lăng chấm tự nhiên, việc ủng hộ thiết thực nhất là tôn trọng mùa cấm, cỡ cấm khai thác do địa phương quy định và không mua cá bắt bằng điện. Quy định cụ thể khác nhau theo tỉnh và theo thời gian, nên hãy hỏi cơ quan quản lý thuỷ sản cấp tỉnh.

Câu hỏi thường gặp

Cá lăng chấm và cá lăng vàng khác nhau ra sao?

Cá lăng chấm có thân xám với nhiều chấm đen nhỏ, sống ở sông lớn phía Bắc. Cá lăng vàng thân vàng nhạt hoặc xám vàng, không có chấm rõ, phổ biến ở sông kênh Nam Bộ. Hai loài đều có bốn đôi râu và vây mỡ nên chỉ nhìn râu thì không đủ.

Cá lăng chấm nuôi ao đất được không?

Được, nếu ao có nước sạch, thay nước thường xuyên, đủ sâu và có chỗ trú dưới đáy. Tuy nhiên đây vẫn là cá sông; nhiều mô hình cho kết quả ổn hơn khi nuôi lồng ở sông, hồ chứa có dòng chảy nhẹ.

Mua cá lăng chấm giống ở đâu?

Ở cơ sở sản xuất giống thuỷ sản có đăng ký, có giấy tờ lô cá và nói rõ được nguồn đàn bố mẹ. Trung tâm khuyến nông, cơ quan quản lý thuỷ sản cấp tỉnh thường biết những cơ sở đang cung cấp giống cá bản địa trong vùng.

Cá chiên có được nuôi không?

Cá chiên được nhiều tài liệu xếp vào nhóm cần bảo vệ, nguồn giống nhân tạo còn ít. Trước khi nuôi, bạn cần kiểm danh mục loài thuỷ sản nguy cấp, quý, hiếm hiện hành và hỏi cơ quan quản lý thuỷ sản cấp tỉnh về điều kiện, giấy tờ cần có.

Vì sao cá lăng chấm giống hay hao hụt sau khi thả?

Nguyên nhân hay gặp là lô giống không đều cỡ khiến cá lớn ăn cá nhỏ, cá bị xây xát khi vận chuyển, hoặc cá chưa quen thức ăn công nghiệp. Hỏi kỹ cơ sở về cỡ, thức ăn đã tập và thả cá vào lúc mát trong ngày giúp giảm hao.

Cá lăng chấm có gai nguy hiểm không?

Như nhiều loài cá da trơn, cá lăng có gai cứng ở vây lưng và vây ngực, bị đâm khá đau. Khi bắt nên dùng vợt và găng tay dày. Vết đâm sưng đỏ kéo dài hoặc có dấu hiệu nhiễm trùng thì nên đi khám.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.