Lươn đồng (Monopterus albus) là loài bản địa sống trong hang ở bờ ruộng, mương, ao bùn khắp Việt Nam; lươn không có vảy, không có vây chẵn, thở khí trời qua khoang miệng, và có đặc điểm hiếm gặp là khi nhỏ phần lớn là con cái, sau đó chuyển thành con đực.
Những đặc điểm này quyết định cách chọn giống: chọn cỡ nào để có đủ đực và cái, vì sao lươn bắt bằng xung điện thường chết sau khi thả, và vì sao giữ đàn bố mẹ lươn khác với giữ đàn cá thông thường. Bài này không viết lại kỹ thuật nuôi lươn không bùn hay nuôi trong bể; phần đó có ở các trang nuôi trồng chuyên đề.
Lươn đồng là loài gì
Lươn thuộc họ Synbranchidae, một nhóm cá có thân dài như rắn. Thân lươn trơn, phủ nhớt, không vảy; vây ngực và vây bụng không có, vây lưng và vây hậu môn chỉ còn là nếp da thấp chạy dọc về phía đuôi. Hai lỗ mang thu nhỏ, hợp lại thành một khe ở dưới cổ. Màu thân thường vàng nâu, lưng sẫm hơn, bụng vàng nhạt, rải những chấm nhỏ màu sẫm.
Mang lươn kém phát triển, nên lươn thở chủ yếu bằng cách đớp không khí, trao đổi khí qua lớp niêm mạc nhiều mạch máu trong khoang miệng và hầu. Đây là lý do lươn có thể sống trong bùn ẩm, hang đất khi ruộng cạn, và cũng là lý do lươn có thể chết đuối nếu bị nhốt chìm trong nước mà không ngoi lên được.
Lươn sống trong hang tự đào ở bờ ruộng, bờ mương, thường có nhiều cửa. Ban ngày lươn nằm trong hang, ban đêm ra kiếm ăn: giun, ấu trùng côn trùng, nòng nọc, cá con, ốc nhỏ. Lươn phân bố rộng ở Đông Á và Đông Nam Á; một số nghiên cứu di truyền gần đây cho thấy những gì ta gọi chung là lươn đồng có thể gồm nhiều dòng hoặc loài ẩn khác nhau theo vùng.
Chuyển giới tính: điều cần biết khi chọn lươn giống
Lươn đồng là loài lưỡng tính chuyển đổi theo kiểu "cái trước, đực sau". Khi còn nhỏ và trong mùa sinh sản đầu tiên, phần lớn lươn là con cái. Sau khi đẻ, tuyến sinh dục dần chuyển sang dạng đực, và lươn sống tiếp những năm sau như con đực. Vì vậy trong một quần thể, lươn nhỏ đa số là cái, lươn lớn đa số là đực, ở cỡ trung gian có những con đang chuyển đổi.
Hệ quả trực tiếp với người giữ giống: muốn có đàn bố mẹ đủ đực và cái, phải chọn lươn ở nhiều cỡ khác nhau, không thể chỉ chọn toàn con to nhất. Đàn toàn lươn to sẽ thiếu con cái, đàn toàn lươn nhỏ sẽ thiếu con đực.
Việc phân biệt đực cái bằng mắt ở lươn không dễ, nhất là ngoài mùa sinh sản. Đến mùa, con cái thường có bụng to, phần bụng gần lỗ sinh dục căng và có thể thấy màu trứng qua da mỏng; con đực bụng thon hơn. Những dấu hiệu này chỉ mang tính tham khảo; người làm giống chuyên nghiệp có cách kiểm tra kỹ hơn. Kỹ thuật phối và cho đẻ thuộc về các trang chuyên sinh sản vật nuôi. Điều người giữ giống nên làm là ghi lại cỡ, màu, ngày chọn của từng nhóm lươn bố mẹ, để mùa sau biết nhóm nào cho lứa con tốt.
Tổ bọt và tập tính giữ con
Vào mùa ấm và mưa, lươn đồng sinh sản trong hang. Lươn tạo một ổ bọt ở chỗ nước nông gần cửa hang, trứng được đẻ vào trong lớp bọt này, nổi gần mặt nước nơi có nhiều oxy. Theo nhiều quan sát, con đực ở lại canh giữ tổ và cả đàn con mới nở một thời gian, xua kẻ thù tới gần.
Tập tính này giải thích hai điều. Thứ nhất, lươn cần hang, bờ đất, nước nông yên tĩnh để sinh sản tự nhiên; ruộng bị bê tông hoá bờ, cày xới liên tục trong mùa mưa làm mất chỗ đẻ. Thứ hai, trong điều kiện nuôi, muốn lươn tự đẻ cần mô phỏng được nơi làm tổ: có giá thể, có chỗ nước nông, có bóng mát, ít bị khuấy động.
Số trứng mỗi lần đẻ của lươn khá ít so với nhiều loài cá đẻ trứng trôi nổi, vì lươn đầu tư vào việc giữ tổ. Đây là một lý do sinh học khiến việc sản xuất giống lươn hàng loạt khó hơn sản xuất giống cá. Nó cũng nhắc người giữ giống rằng mỗi tổ lươn bị phá trong mùa mưa là một lứa con bị mất, không dễ bù lại.
Lươn đồng và những con hay bị nhầm
Ở chợ quê và trên mạng, nhiều con thân dài được gọi lẫn với lươn. Bảng sau giúp bạn tách chúng ra khi mua giống.
| Con vật | Vảy, vây | Đầu, mang | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Lươn đồng | Không vảy, không vây ngực và vây bụng | Mang hợp thành một khe dưới cổ | Thở khí trời, sống hang bùn |
| Cá chình | Có vây ngực rõ, vảy rất nhỏ chìm dưới da | Hai khe mang hai bên | Có thời gian sống ở biển trong vòng đời |
| Cá chạch sông, chạch bùn | Có vây ngực, vây lưng rõ | Mõm nhọn hoặc có râu tuỳ loài | Thân ngắn hơn lươn |
| Rắn nước | Có vảy khô, không nhớt | Lưỡi chẻ, không có khe mang | Bò lên cạn dễ dàng |
Lươn đồng cũng có những biến thể màu: có con vàng sáng, có con sẫm gần đen, có con lốm đốm. Một số người nuôi chuộng lươn vàng vì cho rằng dễ nuôi hơn. Chưa có kết luận chung rằng các biến thể màu là giống khác nhau; nếu bạn muốn giữ một dạng màu, hãy chọn bố mẹ cùng dạng và theo dõi đời con.
Lươn ngoài đồng ruộng và chỗ dựa cho đàn tự nhiên
Lươn đồng từng có rất nhiều trong ruộng lúa, bờ mương ở cả hai miền. Ở nhiều nơi, người làm ruộng nhận thấy lươn ngày càng ít hơn so với trước. Nguyên nhân thường được nhắc tới là bờ ruộng, bờ kênh bị bê tông hoá làm mất hang; thuốc bảo vệ thực vật ảnh hưởng tới lươn và nguồn mồi; khai thác quá mức, kể cả trong mùa sinh sản; và việc dùng xung điện bắt lươn làm chết cả những con không bị bắt.
Vì lươn sống lâu trong một hệ hang và giữ tổ, quần thể ở một khu ruộng khá "tại chỗ", hồi phục chậm khi bị khai thác kiệt. Một khu ruộng mất hết lươn có thể phải rất lâu mới có lươn từ nơi khác di chuyển tới.
Với những hộ muốn lươn tự nhiên quay lại ruộng, việc thiết thực là giữ một đoạn bờ đất có cỏ, chừa mương nhỏ có nước quanh năm, giảm phun thuốc sát bờ, và không cho khai thác bằng xung điện. Đây cũng chính là chỗ dựa lâu dài cho nguồn lươn giống bắt bằng trúm, lờ của địa phương.
Nguồn giống lươn: tự nhiên, bán nhân tạo hay nhân tạo
Lươn giống bắt ngoài tự nhiên. Đến nay ở nhiều nơi, phần lớn lươn giống vẫn đến từ việc bắt ngoài đồng bằng trúm, lờ. Lươn bắt bằng cách này nếu được giữ tốt có thể thích nghi khá ổn. Nhưng nguồn này không ổn định, cỡ không đều, và việc khai thác quá mức làm quần thể ngoài đồng giảm.
Lươn bắt bằng xung điện hoặc hoá chất. Đây là nguồn giống nên tránh. Lươn bị tổn thương bên trong dù bề ngoài lành lặn, thường chết rải rác sau khi thả vài ngày đến vài tuần. Việc khai thác bằng xung điện cũng bị cấm theo quy định về khai thác thuỷ sản.
Lươn sinh sản bán nhân tạo. Một số hộ, trại để lươn bố mẹ tự đẻ trong bể hoặc ao có giá thể, rồi thu lươn con ương tiếp. Nguồn này ổn định hơn bắt ngoài đồng, nhưng số lượng hạn chế.
Lươn sinh sản nhân tạo. Các đơn vị nghiên cứu và một số cơ sở ở đồng bằng sông Cửu Long đã nghiên cứu cho lươn đẻ nhân tạo, ương lươn bột lên giống. Quy mô và mức độ phổ biến thay đổi theo thời gian; bạn nên hỏi trung tâm khuyến nông, cơ quan thuỷ sản cấp tỉnh về các cơ sở đang cung cấp.
Chọn và nhận lươn giống
Dù mua từ nguồn nào, các bước dưới đây giúp bạn giảm hao hụt và giữ được đàn khoẻ. Đây là những điểm riêng của lươn; kỹ thuật nuôi chung có ở các trang chuyên đề.
- Hỏi rõ lươn được bắt hay sản xuất thế nào. Từ chối lô lươn mà người bán không nói được nguồn, hoặc có dấu hiệu bắt bằng xung điện.
- Xem lươn trong thau nước nông: lươn khoẻ bơi linh hoạt, phản ứng nhanh khi chạm, thân có nhớt đều, không có vết trầy, đốm đỏ.
- Loại con nằm ngửa bụng, đầu sưng, thân có vết thâm, cổ bị dập (dấu hiệu bị kẹp, bị móc câu).
- Chọn lô có cỡ tương đối đều để giảm ăn lẫn nhau; nếu định giữ bố mẹ, chọn cả nhóm nhỏ và nhóm lớn để có đủ cái và đực.
- Vận chuyển trong dụng cụ có ít nước, đủ ẩm, không chất đống quá dày, vào lúc mát trong ngày.
- Ghi sổ ngày nhận, nguồn, số lượng, cỡ và số lươn chết trong những tuần đầu.
Tuần đầu là giai đoạn lươn hao nhiều nhất. Theo dõi kỹ và vớt bỏ con chết ngay để không làm bẩn nước, đồng thời giúp bạn tính đúng tỷ lệ sống của từng nguồn giống. Sau vài đợt nhận giống, những con số này cho bạn biết nguồn nào đáng tin hơn mọi lời giới thiệu của người bán.
Khi nào cần gọi cán bộ thú y thuỷ sản
Bài không hướng dẫn dùng thuốc. Hãy mời cán bộ thuỷ sản hoặc thú y thuỷ sản địa phương khi thấy:
- Lươn chết rải rác kéo dài sau khi thả, nhất là nhiều con cùng có vết đỏ, sưng ở đầu hoặc thân.
- Lươn bỏ ăn, nằm duỗi thẳng trên mặt giá thể hoặc mép bể, phản ứng chậm.
- Thân có đốm trắng, mảng loét, nhớt bong từng mảng.
- Lươn quấn vào nhau, ngoi đầu liên tục hoặc bò ra khỏi bể nhiều bất thường.
Ghi lại thời điểm, nhiệt độ nước, thức ăn, lần thay nước gần nhất để cán bộ có dữ liệu. Đừng trộn hoá chất theo lời mách: lươn không vảy, da nhạy cảm hơn cá có vảy, dùng sai dễ làm cả đàn chết. Tách lươn bệnh ra riêng, không thả lươn bệnh hay lươn chết xuống kênh rạch chung.
Lươn mới nhận về là nguồn lây bệnh hay gặp nhất cho đàn đang nuôi. Nếu bạn đã có đàn bố mẹ ổn định, hãy nhốt lươn mới riêng vài tuần, theo dõi rồi mới thả chung.
Câu hỏi thường gặp
Lươn đồng có phải là cá không?
Có. Dù thân dài như rắn, lươn là cá, thuộc họ Synbranchidae. Lươn không vảy, không vây chẵn và thở khí trời, nhưng vẫn có cấu trúc cơ thể và vòng đời của cá.
Vì sao lươn to thường là lươn đực?
Vì lươn đồng chuyển giới tính theo kiểu cái trước, đực sau. Lươn nhỏ phần lớn là cái, sau mùa sinh sản chuyển dần sang đực. Do đó trong cùng một quần thể, con lớn thường là đực, con nhỏ thường là cái.
Lươn giống bắt ngoài đồng có nuôi được không?
Được, nếu lươn bắt bằng trúm, lờ, còn khoẻ và được thuần dưỡng cẩn thận. Tránh lươn bắt bằng xung điện hay hoá chất vì thường chết sau khi thả. Nguồn tự nhiên cũng không ổn định về số lượng và cỡ.
Lươn vàng và lươn đen có phải hai giống khác nhau không?
Chưa có kết luận chung. Màu lươn thay đổi theo cá thể và môi trường, và một số nghiên cứu di truyền cho thấy lươn đồng có thể gồm nhiều dòng ẩn. Nếu muốn giữ một dạng màu, hãy chọn bố mẹ cùng dạng và theo dõi qua nhiều thế hệ.
Lươn có tự đẻ trong bể nuôi được không?
Có thể, nếu lươn bố mẹ đủ cỡ, khoẻ và bể có giá thể, chỗ nước nông, yên tĩnh để làm tổ bọt. Số lươn con mỗi lứa không nhiều. Sản xuất giống để bán phải tuân theo quy định về cơ sở giống thuỷ sản.
Có nên thả lươn nuôi ra ruộng để tăng đàn tự nhiên không?
Không nên làm tự phát. Lươn nuôi có thể mang bệnh từ bể ra ngoài. Cách giúp quần thể tự nhiên hiệu quả hơn là giữ bờ ruộng có hang, giảm thuốc bảo vệ thực vật và không khai thác bằng xung điện.