Cá thát lát cườm (Chitala ornata) và cá thát lát thường (Notopterus notopterus) là hai loài khác nhau cùng họ cá thát lát: thát lát cườm cỡ lớn, lưng gù, có một hàng đốm tròn đen viền sáng như hạt cườm ở nửa sau thân; thát lát thường nhỏ hơn, thân xám bạc, không có đốm cườm.
Cả hai là cá bản địa của Nam Bộ và lưu vực sông Mekong. Thát lát cườm được nuôi rộng nhờ đã cho sinh sản nhân tạo và có tập tính đẻ trên giá thể khá đặc biệt. Bài này giúp bạn nhận đúng loài, hiểu cách cá sinh sản, và biết điều cần hỏi khi mua giống.
Họ cá thát lát: những con cá hình lưỡi dao
Cá thát lát thuộc họ Notopteridae, tiếng Anh hay gọi là cá dao vì dáng thân dẹp mỏng, thuôn về phía đuôi như lưỡi dao. Vây hậu môn rất dài chạy gần hết bụng và nối liền với vây đuôi; cá bơi bằng cách uốn sóng vây này, có thể tiến hoặc lùi nhẹ nhàng. Vây lưng thì ngược lại, rất nhỏ, như một chiếc lông.
Cá có thể ngoi lên mặt nước đớp không khí, nhờ vậy chịu được nước nghèo oxy hơn nhiều loài cá khác. Cá hoạt động mạnh lúc chạng vạng và ban đêm, ban ngày thường trú dưới tán cây thuỷ sinh, gốc cây, hốc bờ.
Cả họ là cá săn mồi. Cá con ăn động vật phù du, ấu trùng côn trùng; cá lớn ăn cá nhỏ, tôm, ốc. Tập tính săn mồi này cần được tính tới khi ghép nuôi, và cũng là lý do thát lát không nên bị đưa ra thuỷ vực không phải quê gốc của nó. Với người nuôi, hiểu cá ăn gì ở từng giai đoạn giúp chọn cỡ giống và thức ăn cho hợp, tránh cảnh cá đói ăn lẫn nhau.
Phân biệt các loài thát lát thường gặp
Bảng dưới gom đặc điểm nhận dạng của cá trưởng thành. Cá con của thát lát cườm thường có vằn sẫm, đốm cườm chưa hiện rõ, nên với cá giống nhỏ phải dựa thêm vào nguồn gốc.
| Loài | Dấu hiệu chính | Tầm vóc | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Thát lát cườm | Một hàng đốm tròn đen viền trắng hoặc sáng ở phần dưới nửa sau thân; lưng gù rõ sau đầu ở cá lớn | Cỡ lớn | Loài nuôi phổ biến ở đồng bằng sông Cửu Long |
| Thát lát thường | Thân xám bạc đến nâu, không có hàng đốm cườm, lưng ít gù | Nhỏ hơn rõ | Sống phổ biến ở kênh rạch, ao hồ |
| Cá còm | Thân có nhiều vệt, đốm sẫm nhỏ xiên chứ không thành hàng đốm tròn | Cỡ lớn | Có ở lưu vực Mekong; tình trạng quần thể cần tra danh mục hiện hành |
Số lượng, kích thước và độ rõ của đốm cườm khác nhau giữa từng con. Có con chỉ vài đốm, có con một hàng dài. Đó là biến dị bình thường trong loài, không phải dấu hiệu lai. Ngoài đốm cườm, dáng lưng gù cao ngay sau đầu ở cá lớn và miệng rộng kéo dài quá mắt cũng là chỗ giúp tách thát lát cườm khỏi thát lát thường.
Phân bố tự nhiên và chỗ cá thát lát ưa sống
Thát lát cườm phân bố tự nhiên ở lưu vực sông Mekong, gồm vùng đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam và các nước thượng nguồn, cùng một số lưu vực lân cận ở Đông Nam Á. Ở nước ta, cá có mặt ở sông lớn, kênh rạch, đồng ngập lũ của các tỉnh miền Tây như An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Vĩnh Long, Cà Mau theo địa giới mới, và một số thuỷ vực ở Đông Nam Bộ.
Cá ưa vùng nước chảy chậm hoặc nước tĩnh, nhiều cây thuỷ sinh, gốc cây ngập, rễ cây ven bờ. Mùa lũ, cá theo nước lên đồng ngập để kiếm ăn và sinh sản; mùa khô, cá rút về sông, kênh sâu. Nhịp lên xuống của nước lũ vì thế gắn chặt với vòng đời của loài.
Thát lát thường có vùng phân bố rộng hơn, từ Nam Á tới Đông Nam Á, gặp ở kênh rạch, ao hồ, ruộng ngập nhiều nơi. Vì nhỏ con, ít giá trị thương phẩm, loài này ít được nghiên cứu và nuôi, nhưng vẫn là một phần quen thuộc của cá đồng Nam Bộ. Những thay đổi lớn về chế độ lũ, đê bao và khai thác quá mức ảnh hưởng tới cả hai loài.
Tập tính sinh sản: đẻ trên giá thể và cá bố canh trứng
Thát lát cườm đẻ trứng dính trên giá thể cứng trong nước như gốc cây, cọc gỗ, mặt đá, thành ống. Sau khi cá cái đẻ, cá đực ở lại canh giữ ổ trứng, quạt nước cho trứng đủ oxy và xua kẻ thù, cho tới khi trứng nở. Tập tính này đã được người làm giống tận dụng: thả giá thể như tấm gỗ, ống sành vào ao bố mẹ để cá tự đẻ, rồi thu giá thể có trứng đem ấp.
Mùa sinh sản ngoài tự nhiên thường gắn với mùa mưa, khi nước lên và nhiều mồi cho cá con. Trong trại, nhờ nuôi vỗ bố mẹ tốt, thời gian sinh sản có thể kéo dài hơn.
Ở đồng bằng sông Cửu Long, thát lát cườm đã được cho sinh sản nhân tạo và bán nhân tạo thành công từ khá lâu, nhờ vậy nghề nuôi không còn dựa vào cá con vớt ngoài tự nhiên. Cần Thơ (gồm Hậu Giang cũ) được biết đến là vùng nuôi và chế biến thát lát cườm nổi tiếng. Kỹ thuật cho đẻ chi tiết thuộc về các trang chuyên sinh sản vật nuôi.
Hiểu tập tính cá bố canh trứng cũng giúp người nuôi tránh một sai lầm hay gặp: kéo lưới, khua động ao bố mẹ trong mùa đẻ. Cá đực bị xua khỏi ổ, trứng thiếu oxy và bị cá khác ăn, cả lứa coi như mất. Ao giữ bố mẹ nên yên tĩnh trong mùa này, việc thu giá thể có trứng làm nhẹ tay, đúng lúc.
Mua giống thát lát cườm: điều cần hỏi
Cá thát lát cườm giống bán khá rộng ở đồng bằng sông Cửu Long. Trước khi nhận lô cá, bạn nên hỏi người bán:
- Cá được sản xuất ở đâu? Cơ sở sản xuất giống thuỷ sản phải đáp ứng điều kiện theo quy định hiện hành; hãy yêu cầu giấy tờ nguồn gốc lô cá.
- Đàn bố mẹ giữ bao lâu, có bổ sung mới không? Đàn bố mẹ dùng lâu năm không thay mới dễ cho con kém đều.
- Cá đã ăn được thức ăn gì? Thát lát là cá săn mồi; cá giống từ trại có thể đã được tập ăn thức ăn chế biến, cá chưa tập sẽ khó nuôi hơn.
- Cỡ cá đều không? Thát lát ăn thịt đồng loại nhỏ hơn; lô chênh cỡ nhiều sẽ hao sau khi thả.
- Có lẫn cá còm hay loài khác không? Với cá nhỏ, vằn của các loài khá giống nhau; người bán hiểu cá sẽ biết lô của họ là loài gì.
Cá thát lát thường hiếm khi được sản xuất giống để bán; nếu bạn muốn giữ loài này, nguồn thường là cá đồng ruộng vùng mình, bắt đúng mùa được phép và từ nhiều nơi để đàn đủ đa dạng.
Điều riêng khi nuôi thát lát cườm
Cần chỗ trú và giá thể. Cá ưa bóng tối, nấp dưới cây thuỷ sinh, ống, gốc cây. Ao có chỗ trú giúp cá bớt căng thẳng; ao giữ bố mẹ cần thêm giá thể cứng cho cá đẻ.
Ăn mạnh lúc chạng vạng và ban đêm. Cho ăn vào chiều tối, quan sát lượng thừa sáng hôm sau để chỉnh khẩu phần.
Săn mồi, không ghép với cá nhỏ. Thát lát lớn ăn cá nhỏ nuôi chung. Nếu ghép, chỉ ghép với loài có cỡ lớn hơn hoặc ngang bằng.
Chịu nước nghèo oxy nhưng không chịu bẩn kéo dài. Khả năng đớp khí giúp cá sống qua lúc nước xấu, nhưng nước bẩn lâu ngày vẫn làm cá dễ bệnh.
Thả cá vào lúc mát và cho cá quen nước từ từ. Cá giống thát lát nhạy với chênh lệch nhiệt độ. Ngâm bao cá trong ao một lúc cho nước trong bao gần với nước ao rồi mới mở bao, thả vào sáng sớm hoặc chiều mát. Vài ngày đầu cho ăn ít, quan sát cá ra ăn rồi mới tăng dần.
Da và vây mỏng, dễ trầy. Vây hậu môn dài là bộ phận bơi chính; kéo lưới thô hay vận chuyển chen chúc làm rách vây, cá bơi kém và dễ nhiễm bệnh.
Giữ nguồn gen và trách nhiệm khi nuôi
Thát lát cườm được nuôi nhiều nên nguồn giống nhân tạo khá dồi dào. Điều cần để ý là đàn bố mẹ ở nhiều trại có thể được giữ nhiều năm từ một nguồn hẹp. Các trại có trách nhiệm định kỳ bổ sung cá bố mẹ từ nguồn khác để tránh cận huyết, và người nuôi có thể ưu tiên những cơ sở làm việc này.
Thát lát cườm cũng là cá cảnh được buôn bán ở nhiều nước. Ở một số nơi trên thế giới, loài này đã được ghi nhận sống hoang ngoài thuỷ vực quê gốc sau khi bị thả ra, và được coi là có nguy cơ gây hại cho cá bản địa ở đó. Bài học áp dụng cả trong nước: không đem thát lát cườm thả xuống các sông hồ không phải quê gốc của nó, như hồ chứa miền Trung, miền Bắc.
Với cá còm và các loài thát lát ít gặp, nếu bạn thấy ngoài tự nhiên, hãy tra danh mục loài thuỷ sản nguy cấp, quý, hiếm hiện hành trước khi khai thác hay mua bán, và hỏi cơ quan quản lý thuỷ sản cấp tỉnh khi chưa rõ.
Khi nào cần gọi cán bộ thú y thuỷ sản
Bài không hướng dẫn dùng thuốc. Hãy mời cán bộ thuỷ sản hoặc thú y thuỷ sản địa phương khi thấy:
- Da có mảng trắng, vết loét, vây hậu môn rách rữa nhiều con.
- Cá bơi lờ đờ trên mặt ban ngày, trái với tập tính trú ẩn.
- Bụng trương, mắt lồi đục, cá bỏ ăn kéo dài.
- Cá chết rải rác liên tục, hoặc chết nhiều sau khi thay nước, sau mưa lớn.
Hãy ghi số cá chết, thời điểm, thức ăn, nguồn nước để cán bộ có dữ liệu. Với ao giữ cá bố mẹ, cách ly cá mới vài tuần trước khi thả chung và tách một phần đàn sang chỗ khác làm dự phòng.
Mùa mưa và lúc giao mùa, nước ao thay đổi nhanh về nhiệt độ, độ đục, là thời điểm cá dễ phát bệnh nhất. Giảm cho ăn trong những ngày thời tiết thất thường, không kéo lưới, không vận chuyển cá bố mẹ vào lúc này là cách phòng rẻ mà hiệu quả. Đừng tự ý dùng hoá chất theo lời mách khi chưa biết rõ bệnh.
Câu hỏi thường gặp
Cá thát lát cườm và cá thát lát thường có lai với nhau không?
Hai loài thuộc hai chi khác nhau trong cùng họ, nên việc lai tự nhiên giữa chúng không phải điều thường gặp. Mối lo pha giống với thát lát cườm chủ yếu nằm ở việc đàn bố mẹ trong trại bị cận huyết, hơn là lai khác loài.
Vì sao gọi là thát lát cườm?
Vì cá có một hàng đốm tròn đen viền sáng ở nửa sau thân, trông như những hạt cườm đính lên. Số đốm và độ rõ khác nhau giữa từng con, cá nhỏ có thể chưa thấy rõ.
Cá thát lát cườm có nuôi được ở miền Bắc không?
Đây là cá vùng nhiệt đới, quen nước ấm của Nam Bộ. Mùa đông miền Bắc nước lạnh sẽ là thử thách lớn. Ngoài ra, cần thận trọng không để cá thoát ra sông hồ miền Bắc vốn không phải quê gốc của loài.
Cá còm có phải là thát lát cườm không?
Không. Cá còm là loài khác cùng chi, thân có nhiều vệt và đốm nhỏ sẫm chứ không thành hàng đốm tròn rõ như thát lát cườm. Trước khi khai thác hay mua bán cá còm, hãy tra danh mục loài thuỷ sản cần bảo vệ hiện hành.
Thát lát cườm có thể tự đẻ trong ao không?
Có thể, nếu cá bố mẹ đủ tuổi, khoẻ và ao có giá thể cứng như tấm gỗ, ống sành để cá đẻ trứng dính lên. Cá đực sẽ ở lại canh trứng. Tuy vậy, sản xuất giống để bán phải theo quy định về cơ sở giống thuỷ sản.
Cá thát lát thường có giá trị giữ giống không?
Có. Đây là loài bản địa phổ biến ở kênh rạch Nam Bộ, ít được chú ý vì nhỏ con. Giữ loài này trong ao vườn với nguồn cá đồng đúng mùa cho phép là cách góp phần duy trì đa dạng cá bản địa ở địa phương.