Cá trê vàng và cá trê trắng là cá trê bản địa của Việt Nam; cá trê phi là loài gốc châu Phi được nhập vào nuôi; cá trê lai là con lai giữa trê vàng cái và trê phi đực, lớn nhanh hơn trê nội. Phân biệt được bốn loại này giúp bạn biết mình đang nuôi gì, và giúp giữ đàn trê nội không bị pha lẫn.
Ở chợ và trại giống, tất cả thường được gọi chung là "cá trê", có khi kèm chữ "đồng" để chỉ cá bắt ngoài ruộng. Nhưng giữa chúng có khác biệt rõ về đầu, màu, tầm vóc và cả tác động tới sinh thái. Phần dưới đi qua từng điểm.
Đặc điểm chung của họ cá trê
Cá trê thuộc họ Clariidae, nhóm cá da trơn. Thân dài, đầu dẹp có lớp xương cứng bao phía trên, bốn đôi râu quanh miệng, vây lưng và vây hậu môn dài chạy gần tới đuôi, không có gai cứng ở vây lưng. Vây ngực có một gai cứng có thể đâm khá đau.
Cá trê có cơ quan hô hấp phụ dạng nhánh cây nằm trong khoang phía trên mang, nhờ đó thở được khí trời. Cá sống được ở ruộng, mương, ao tù nghèo oxy, có thể trườn qua chỗ đất ẩm và rúc bùn khi nước cạn. Đó là lý do cá trê là một trong những loài cá đồng dai sức nhất.
Cá ăn tạp thiên về động vật: giun, côn trùng, ốc, tôm tép, cá nhỏ, xác động vật. Cá kiếm ăn chủ yếu ban đêm, dựa vào râu để dò mồi. Trê nội sinh sản vào mùa mưa, thường đẻ trong hang hoặc chỗ khuất ở bờ ruộng, bờ ao.
Ở miền Bắc, người ta còn nói tới cá trê đen, được nhiều tài liệu ghi là một loài trê bản địa khác của vùng sông Hồng. Bài này tập trung vào trê vàng và trê trắng là hai loài phổ biến hơn; với các loài trê ít gặp, việc định danh nên nhờ người làm phân loại.
Bảng phân biệt bốn loại cá trê
Những dấu hiệu dưới đây dễ thấy nhất ở cá cỡ vừa trở lên. Cá giống nhỏ có thể chưa rõ màu, nên với lô giống, giấy tờ nguồn gốc vẫn là chỗ dựa chính.
| Loại | Màu thân | Đầu | Tầm vóc, tốc độ lớn |
|---|---|---|---|
| Trê vàng (bản địa) | Vàng nâu, xám vàng, bụng vàng nhạt; nhiều con có các hàng chấm nhạt nhỏ chạy ngang thân | Đầu tương đối nhỏ, mỏm xương sau đầu tròn tù | Nhỏ đến vừa, lớn chậm |
| Trê trắng (bản địa) | Xám tro, xám đen; có dạng bạch tạng màu hồng nhạt | Mỏm xương sau đầu nhọn hơn trê vàng | Nhỏ đến vừa, lớn chậm |
| Trê phi (nhập) | Xám đen hoặc xám xanh, có vân loang lổ như đá hoa | Đầu rất to, dẹp, mặt xương đầu sần | Rất lớn, lớn rất nhanh |
| Trê lai | Thường xám vàng đến xám đen, đặc điểm xen giữa hai bố mẹ | Đầu to hơn trê vàng, nhỏ hơn trê phi | Lớn nhanh hơn trê nội nhiều |
Mỏm xương sau đầu là phần xương nhô ra ở gáy, sờ được bằng ngón tay qua lớp da. Các tài liệu phân loại thường dùng hình dạng phần này để tách trê vàng và trê trắng. Đây là dấu hiệu cần tập quan sát vài lần trên cá đã biết rõ loài thì mới dùng chắc tay được.
Trê phi: vì sao đáng lo khi ra ngoài tự nhiên
Trê phi được nhập vào Việt Nam để nuôi vì lớn rất nhanh, chịu nước xấu, ăn tạp. Chính những ưu điểm ấy lại là điểm nguy hiểm khi cá thoát ra sông, kênh, ruộng: trê phi cạnh tranh thức ăn, nơi ở với cá bản địa, săn cả cá nhỏ, ếch nhái, và có thể sinh sản ngoài tự nhiên.
Nhiều tài liệu sinh thái coi trê phi là loài có nguy cơ xâm hại cao. Luật Đa dạng sinh học 2008 có quy định về kiểm soát loài ngoại lai xâm hại, và Bộ phụ trách môi trường ban hành danh mục loài ngoại lai xâm hại, nguy cơ xâm hại. Bạn nên tra danh mục hiện hành để biết trê phi đang được xếp ở nhóm nào và các yêu cầu đi kèm khi nuôi.
Với hộ nuôi, nguyên tắc thực tế là: nếu nuôi trê phi hoặc trê lai, phải giữ ao kín, bờ cao, lưới chắn, cống có lưới; không bao giờ thả xuống kênh rạch, không phóng sinh. Mùa lũ là thời điểm cá thoát ra nhiều nhất, nên cần gia cố bờ trước mùa mưa. Khi lỡ để cá thoát ra diện rộng, hãy báo chính quyền và cơ quan thuỷ sản địa phương thay vì im lặng.
Trê lai: lợi ích và cái giá với đàn trê nội
Trê lai được tạo bằng cách cho trê vàng cái giao phối với trê phi đực, thường qua sinh sản nhân tạo trong trại. Con lai thừa hưởng tốc độ lớn của trê phi và một phần màu, chất thịt của trê vàng, nên được nuôi phổ biến ở đồng bằng sông Cửu Long và nhiều nơi khác.
Với nghề nuôi, trê lai là một lựa chọn kinh tế. Nhưng với nguồn gen trê nội, có hai mối lo. Một là cá lai thoát ra ngoài, nếu có khả năng sinh sản, có thể lai ngược với trê vàng tự nhiên, làm pha loãng vốn gen của quần thể bản địa. Hai là khi người nuôi đều chuyển sang trê lai, đàn trê vàng thuần trong trại giống dễ bị thu hẹp, chỉ còn giữ làm cá mẹ để lai.
Vì thế, giữ một đàn trê vàng thuần, tách biệt hoàn toàn khỏi trê phi, là việc có giá trị lâu dài. Một trại giống mà đàn trê vàng mẹ cũng bị lai lẫn thì con lai của họ cũng không còn ổn định. Người nuôi trê lai vì thế cũng có lợi khi ở đâu đó vẫn còn người giữ trê vàng thuần.
Trê nội ngoài đồng ruộng: vì sao ngày càng ít gặp
Người lớn tuổi ở nhiều vùng quê còn nhớ thời cá trê vàng, trê trắng có nhiều trong hang bờ ruộng, mỗi mùa mưa đi đặt lờ là có. Ngày nay ở không ít nơi, gặp một con trê vàng thật ngoài đồng đã khó hơn. Có nhiều nguyên nhân cùng tác động, và không thể quy hết cho một yếu tố.
Bờ ruộng, bờ mương được bê tông hoá làm mất hang đẻ của cá. Thuốc bảo vệ thực vật trên ruộng lúa ảnh hưởng tới cá con và nguồn thức ăn của cá. Đê bao khép kín ở vùng lũ làm giảm đường di chuyển của cá giữa sông và đồng. Khai thác bằng xung điện, lưới mắt nhỏ bắt cả cá chưa kịp sinh sản. Thêm vào đó, cá trê phi, trê lai thoát ra cạnh tranh trực tiếp chỗ ở và thức ăn.
Mức độ suy giảm khác nhau giữa các vùng và cần khảo sát cụ thể mới nói chắc được. Nhưng xu hướng chung đủ rõ để những ai còn nuôi trê nội nên coi đàn cá của mình là một nguồn gen đáng giữ, không chỉ là cá thương phẩm chậm lớn.
Mua cá trê giống: hỏi gì để biết đúng loại
Cá trê giống cỡ nhỏ rất khó phân biệt bằng mắt, nên câu hỏi đúng quan trọng hơn mẹo nhìn. Một cơ sở đàng hoàng nên trả lời rõ:
- Đây là trê vàng, trê trắng, trê phi hay trê lai? Câu trả lời "cá trê đồng" hay "trê lai vàng" chưa đủ rõ; hãy hỏi cụ thể cá bố và cá mẹ là loài gì.
- Đàn bố mẹ giữ ở đâu, có tách riêng trê vàng và trê phi không? Trại giữ hai loài chung ao thì lô "trê vàng" của họ khó bảo đảm thuần.
- Cá đã quen thức ăn gì? Giúp bạn cho ăn đúng nhịp trong tuần đầu, giảm hao hụt.
- Cỡ cá có đều không? Cá trê cũng ăn con nhỏ hơn khi đói; lô đều cỡ dễ nuôi hơn.
- Có giấy tờ nguồn gốc lô giống không? Cơ sở sản xuất, kinh doanh giống thuỷ sản phải đáp ứng điều kiện theo Luật Thuỷ sản 2017 và văn bản hướng dẫn hiện hành.
Nếu mục đích của bạn là giữ trê nội, hãy nói rõ với người bán ngay từ đầu. Một cơ sở biết rõ đàn cá của mình sẽ nói thẳng họ có trê vàng thuần hay không, thay vì chiều theo câu hỏi.
Giữ đàn trê vàng thuần trong ao nhà
Các bước dưới đây là nguyên lý. Phần sinh sản, ấp trứng chi tiết thuộc về các trang chuyên phối giống; phần chuồng ao chung thuộc về các trang nuôi trồng.
- Lấy cá bố mẹ từ ruộng đồng vùng ít nuôi trê phi, trê lai, hoặc từ cơ sở giữ trê vàng thuần có hồ sơ. Kiểm tra từng con theo màu thân, đầu nhỏ, mỏm xương gáy tròn.
- Loại bỏ những con đầu to bất thường, thân xám loang lổ, lớn quá nhanh so với đàn: đó có thể là cá lai.
- Giữ ao hoàn toàn tách khỏi ao nuôi trê phi, trê lai; không dùng chung vợt, lưới, bể chứa mà không rửa sạch.
- Làm bờ cao, lưới chắn, cống có lưới; cá trê trườn rất giỏi vào đêm mưa.
- Giữ đủ số cặp bố mẹ từ nhiều nguồn trong vùng, bổ sung cá mới vài năm một lần để tránh cận huyết.
- Ghi sổ nguồn cá, ngày thả, những lần bổ sung, những con bị loại và lý do.
Ví dụ giả định: một hộ giữ trê vàng trong ao cạnh ao nuôi trê lai, hai ao thông nhau qua một rãnh nhỏ mùa mưa. Vài năm sau, đàn trong ao giữ giống có nhiều con đầu to, lớn nhanh khác thường. Đó là dấu hiệu đàn đã bị pha, và gần như phải làm lại từ đầu.
Khi nào cần gọi cán bộ thú y thuỷ sản
Cá trê dai sức, nên khi đã có dấu hiệu bệnh thì thường đàn đã bị ảnh hưởng nhiều. Bài không hướng dẫn dùng thuốc; nên mời cán bộ thuỷ sản hoặc thú y thuỷ sản khi thấy:
- Da có đốm trắng, mảng đỏ, vết loét, râu cụt hoặc thối.
- Bụng trương, cá nổi lờ đờ, bơi không định hướng.
- Cá bỏ ăn nhiều ngày, nhất là khi giao mùa hoặc trời lạnh.
- Cá chết rải rác kéo dài, hoặc chết nhiều sau khi thay nước, sau mưa lớn.
Hãy ghi số cá chết mỗi ngày, thức ăn, nguồn nước gần đây. Đừng tự trộn thuốc theo lời mách, và không thả cá bệnh hay cá chết ra kênh rạch chung.
Với ao giữ giống trê vàng, nên giữ một phần cá bố mẹ ở chỗ khác làm dự phòng, và cách ly cá mới bắt về vài tuần trước khi thả chung với đàn cũ. Cá đồng mới bắt hay mang ký sinh, vết xước từ ngư cụ, là đường lây bệnh vào đàn đã ổn định.
Câu hỏi thường gặp
Cá trê đồng là trê vàng hay trê trắng?
Cả hai. "Trê đồng" là cách gọi chung cá trê bắt ngoài ruộng, mương, thường là trê vàng hoặc trê trắng bản địa. Tuy vậy ở vùng nuôi nhiều trê lai, cá bắt ngoài đồng cũng có thể là cá nuôi thoát ra, nên tên "đồng" không bảo đảm là cá nội.
Làm sao nhận ra cá trê lai?
Trê lai thường có đầu to hơn trê vàng, thân xám hơn, lớn nhanh khác thường so với trê nội cùng tuổi. Đặc điểm xen giữa hai bố mẹ nên không có một dấu hiệu duy nhất; cần nhìn tổng thể và hỏi nguồn gốc lô cá.
Trê phi có được nuôi không?
Việc nuôi trê phi phụ thuộc vào cách loài này được xếp trong danh mục loài ngoại lai hiện hành và quy định của địa phương. Hãy tra danh mục mới nhất và hỏi cơ quan quản lý thuỷ sản hoặc môi trường cấp tỉnh trước khi nuôi.
Có nên phóng sinh cá trê không?
Không nên, đặc biệt là trê phi và trê lai, vì chúng có thể cạnh tranh và gây hại cho cá bản địa. Kể cả trê nội, thả cá nuôi ra tự nhiên có thể mang bệnh từ ao ra sông. Bảo vệ cá tự nhiên hiệu quả hơn là giữ nơi sống của chúng.
Cá trê vàng lớn chậm có đáng giữ không?
Đáng, nếu bạn coi trọng nguồn gen bản địa, chất thịt và sức chịu đựng trong điều kiện ruộng. Trê vàng thuần còn là nguồn cá mẹ để tạo trê lai; đàn mẹ mà bị pha thì con lai cũng kém ổn định.
Bị gai cá trê đâm phải làm sao?
Rửa sạch vết thương bằng nước sạch, giữ vệ sinh và theo dõi. Nếu vết đâm sưng to, đau nhức tăng, đỏ lan rộng hoặc có mủ, bạn nên đến cơ sở y tế để được khám, không tự đắp lá hay chích nặn.