Thử giống qua đời con là cho một con đực hoặc một cặp bố mẹ phối riêng, đánh dấu và nuôi đời con của chúng, rồi xem trong đời con có xuất hiện những con lệch đặc điểm giống hay không. Nếu bố hoặc mẹ mang gen của giống khác ở dạng ẩn, gen đó sớm muộn sẽ lộ ra ở một phần đời con. Đây là cách cổ điển và đáng tin nhất mà một nông hộ có thể tự làm để kiểm tra con giống, vì nó nhìn thấy cái mà ngoại hình của bố mẹ che đi.
Phương pháp này tốn thời gian và cần ghi chép cẩn thận, nhưng không cần phòng thí nghiệm. Bài dưới đây giải thích nguyên lý, các bước làm với gà và vịt (nhanh nhất), cách áp dụng với heo, bò, cây trồng, và đặc biệt là cách đọc kết quả cho đúng: thấy con lệch nói lên điều gì, không thấy con lệch thì chắc đến đâu.
Nguyên lý: gen ẩn chỉ lộ khi gặp đúng bạn phối
Một con vật mang hai bản của mỗi gen. Khi một bản là trội, bản còn lại bị che và con vật vẫn trông đúng giống. Bản bị che này truyền sang khoảng một nửa số con của nó. Nếu bạn phối của nó cũng mang bản ẩn ấy, trung bình một phần tư số con sẽ nhận hai bản ẩn và lộ ra tính trạng lạ: lông khác màu, mào khác kiểu, da khác màu, dáng khác hẳn.
Vì vậy thử đời con có hai dạng. Dạng thứ nhất là cho con cần thử phối với các con trong chính đàn giống của mình, rồi xem đời con có phân ly không; cách này kiểm tra cả cặp. Dạng thứ hai là cho con cần thử phối với một con chắc chắn mang hai bản ẩn của tính trạng đang nghi, ví dụ một con mang tính lặn rõ ràng; khi đó nếu con được thử có mang bản ẩn, khoảng một nửa đời con sẽ lộ, nên phát hiện nhanh hơn nhiều. Trong di truyền học, dạng thứ hai gọi là lai phân tích.
Với giống nội quý, dạng thứ nhất phổ biến hơn vì mục đích là giữ đàn. Dạng thứ hai chỉ dùng khi bạn biết rõ mình đang nghi tính trạng nào và có sẵn con mang tính lặn đó, điều thường chỉ có ở cơ sở giữ giống.
Các bước thử với gà, vịt: nhanh nhất và dễ làm nhất ở nông hộ
Gia cầm là đối tượng lý tưởng để thử đời con: vòng đời ngắn, mỗi mái cho nhiều trứng, ấp ba đến bốn tuần là có con. Một quy trình gọn cho nông hộ:
- Chọn con cần thử, thường là con trống vì một trống phối nhiều mái nên ảnh hưởng lớn nhất đến đàn. Đánh dấu bằng vòng chân hoặc khoen cánh.
- Nhốt trống cùng một nhóm mái đã biết rõ nguồn trong một ô riêng; nếu mái trước đó ở chung với trống khác, đợi một thời gian cho tinh cũ hết tác dụng rồi mới bắt đầu nhặt trứng.
- Nhặt trứng hằng ngày, ghi số hiệu mái nếu đẻ ổ riêng, ghi ngày đẻ bằng bút chì mềm lên vỏ.
- Ấp riêng lô trứng này hoặc đánh dấu rõ trong máy ấp; gà con nở ra đeo vòng hoặc nhuộm màu lông tơ theo lô.
- Nuôi đời con đến tuổi thể hiện đặc điểm, thường khi lông trưởng thành đã mọc đủ và mào, chân đã định hình.
- Đếm và ghi: tổng số con, số con đúng chuẩn, số con lệch, lệch ở đặc điểm nào, lệch có theo giới tính không.
- Quyết định: giữ trống nếu đời con đồng đều, loại trống nếu đời con phân ly rõ; ghi kết quả vào sổ để lần sau còn tra lại.
Với vịt và ngan, các bước tương tự nhưng thời gian ấp dài hơn: trứng vịt thường khoảng bốn tuần, trứng ngan dài hơn vịt chừng một tuần. Phương pháp phối giống, chăm sóc trứng ấp và kỹ thuật ấp nở là chủ đề riêng; ở đây chỉ cần nhớ nguyên tắc: biết chắc bố, biết chắc mẹ, đánh dấu đời con.
Đọc kết quả: không thấy con lệch thì chắc đến đâu
Đây là chỗ nhiều người hiểu sai. Không thấy con lệch không có nghĩa là bố mẹ chắc chắn thuần; nó chỉ có nghĩa là xác suất bỏ sót đã nhỏ đi. Mức nhỏ đến đâu phụ thuộc số con bạn quan sát. Bảng dưới là ví dụ giả định tính theo nguyên lý Mendel cho một gen ẩn, trong trường hợp cả hai bố mẹ đều mang gen ẩn (mỗi con có khả năng một phần tư lộ ra) và trường hợp lai phân tích (mỗi con có khả năng một nửa lộ ra):
| Số con đã nuôi và xem | Xác suất bỏ sót khi mỗi con có 1/4 khả năng lộ | Xác suất bỏ sót khi mỗi con có 1/2 khả năng lộ |
|---|---|---|
| 5 con | khoảng 24% | khoảng 3% |
| 10 con | khoảng 6% | dưới 0,1% |
| 15 con | khoảng 1,3% | rất nhỏ |
| 20 con | khoảng 0,3% | rất nhỏ |
Cách tính là nhân xác suất "con này không lộ" của từng con với nhau: với mỗi con có ba phần tư khả năng không lộ, mười con đều không lộ có xác suất ba phần tư mũ mười, khoảng 6%. Con số chỉ đúng cho một gen ẩn đã biết và giả định cả bố lẫn mẹ cùng mang; trong thực tế bạn không biết con vật mang gen nào, nên quan sát càng nhiều con, càng nhiều đặc điểm, càng nhiều lứa thì kết luận càng chắc. Ý chính là: vài con đời sau chưa đủ, vài chục con mới bắt đầu có sức nặng.
Heo, bò, dê: chậm hơn nhiều, phải tính trước
Heo. Heo nái chửa khoảng ba tháng, ba tuần, ba ngày, mỗi lứa nhiều con, nên một hai lứa đã cho đủ số con để đọc. Nhưng heo cái hậu bị cần nhiều tháng mới đến tuổi phối, và đời con cần lớn một thời gian mới thể hiện rõ màu lông, dáng lưng, tai. Thử một đực giống heo nội thường mất gần một năm từ lúc phối đến lúc đánh giá được.
Bò. Bò chửa khoảng chín tháng và thường đẻ một con mỗi lứa. Muốn có vài chục bê từ một con đực để đánh giá thì phải phối với nhiều bò cái và chờ nhiều năm. Ở nông hộ, thử đời con với bò gần như không khả thi; thay vào đó người ta dựa vào nguồn gốc đực giống và ghi chép của cơ sở giữ giống.
Dê. Dê chửa khoảng năm tháng, thường một đến hai con mỗi lứa, nhanh hơn bò nhưng vẫn cần nhiều cái phối với cùng một đực. Một nhóm hộ cùng dùng chung một đực giống có thể gộp kết quả đời con của cả nhóm nếu ghi chép thống nhất.
Hệ quả chung. Với gia súc lớn, việc chọn đực giống từ nguồn đáng tin quan trọng hơn việc tự thử. Đực giống đã được cơ sở giữ giống theo dõi đời con, có ghi chép, là thứ một nông hộ không thể tự tạo ra trong vài năm.
Cây trồng: đời con là vụ sau, nhưng nguyên lý hơi khác
Với lúa, nếp và các cây tự thụ phấn, đời con chính là cây mọc từ hạt thu ở vụ trước. Lúa cổ truyền giữ giống bằng hạt, nên mỗi vụ đã là một lần thử đời con: nếu ruộng xuất hiện cây cao vượt, trỗ lệch, bông khác dạng, hạt khác màu thì lô giống đã lẫn hoặc đã bị thụ phấn chéo. Người giữ giống lúa cổ truyền làm việc này mỗi vụ bằng cách đi ruộng và nhổ bỏ cây khác dạng, đồng thời chọn những bông đúng giống làm hạt cho vụ sau.
Với cây ăn quả nhân bằng ghép, chiết, cây con là bản sao vô tính của cây mẹ, không có "đời con" theo nghĩa di truyền. Thử đời con không áp dụng; thứ cần kiểm là cây mẹ cho mắt ghép có đúng giống không, và điều đó chỉ xác nhận được qua quả của cây mẹ, qua hồ sơ cây đầu dòng nếu có, và trong trường hợp cần thiết là phân tích di truyền.
Cây giao phấn như ngô bản địa lại khó nhất: chỉ cần ruộng bên cạnh trồng ngô lai là phấn bay sang, hạt thu được đã mang gen lạ dù cây mẹ thuần. Ở đây việc cách ly ruộng giống quan trọng hơn mọi phép thử.
Một ví dụ giả định: thử con trống mới đưa vào đàn gà nội
Ví dụ giả định sau giúp hình dung cả quá trình. Một hộ giữ đàn gà Hồ khoảng hai mươi mái, muốn thay trống để tránh cận huyết, nên mua một con trống từ hộ khác ở xa. Con trống đạt mô tả giống: dáng đứng thẳng, chân to, mào nụ, lông đúng màu. Trước khi cho nó phối cả đàn, chủ hộ tách nó vào một ô với năm mái đã nuôi nhiều năm, đã biết đời con đồng đều với trống cũ.
Sau khi đợi đủ thời gian cho tinh của trống cũ hết tác dụng, chủ hộ nhặt trứng của năm mái trong khoảng ba tuần, ấp riêng một lô, được khoảng ba mươi gà con. Gà con được nhuộm màu lông tơ theo lô và nuôi riêng một góc. Đến khi lông trưởng thành mọc đủ, chủ hộ đếm và thấy bốn con có mào cờ cao răng cưa, trong khi đàn gà Hồ của nhà xưa nay chưa từng có con nào như vậy.
Đọc kết quả: bốn trên ba mươi là tỷ lệ không nhỏ, lệch theo cùng một kiểu, và chỉ xuất hiện ở lô của trống mới. Điều đó cho thấy con trống mang gen mào cờ ở dạng ẩn, và các mái nhà cũng mang gen này ở mức thấp mà trước đây chưa lộ, hoặc con trống đã pha máu giống khác. Dù là khả năng nào, kết luận thực tế vẫn như nhau: không dùng con trống này làm giống cho cả đàn, loại bốn con lệch ra khỏi đàn giống, và theo dõi kỹ hơn các lứa sau của năm mái đã thử.
Những lỗi làm hỏng kết quả thử đời con
Thử đời con chỉ có giá trị khi biết chắc bố mẹ của từng con. Các lỗi hay gặp làm kết quả sai mà người làm không biết:
- Mái đã phối với trống khác trước đó: gà mái có thể giữ tinh trùng trong ống dẫn trứng một thời gian và vẫn đẻ trứng có phôi của trống cũ.
- Trứng nhặt lẫn giữa các ô: chỉ cần một vài quả trứng lạ là kết quả đếm bị lệch.
- Không đánh dấu đời con ngay khi nở: gà con, heo con trộn chung rồi mới nhớ lại thì không còn biết con nào của cặp nào.
- Đánh giá quá sớm: đặc điểm chưa thể hiện, con bình thường bị coi là lệch hoặc ngược lại.
- Chỉ xem một lứa nhỏ: như bảng xác suất ở trên cho thấy, vài con chưa đủ để kết luận.
- Bỏ qua con chết sớm: con chết trước khi đánh giá vẫn phải ghi; nếu con lệch chết nhiều hơn vì lý do nào đó, bỏ qua chúng làm đàn trông thuần hơn thật.
Mọi lỗi trên đều quy về một điều: ghi chép. Sổ ghi số hiệu bố mẹ, ngày phối, ngày đẻ hoặc nở, số con, đặc điểm từng con là công cụ chính của phương pháp này. Không có sổ thì thử đời con chỉ còn là cảm giác.
Câu hỏi thường gặp
Thử đời con có cần làm với mọi con giống không?
Không cần với mọi con. Ưu tiên thử những con đực vì mỗi con đực ảnh hưởng tới nhiều đời con, và những con mới đưa vào đàn từ nguồn bên ngoài. Con cái sinh ra trong đàn đã ổn định qua nhiều đời thì rủi ro thấp hơn.
Đời con có vài con lệch nhỏ thì có phải loại bố mẹ ngay không?
Cần xem lệch ở đặc điểm nào và lệch bao nhiêu. Biến động nhỏ về sắc lông nằm trong khung mô tả giống là bình thường. Lệch rõ, lặp lại theo một kiểu, như lông trắng ở giống lông màu, thì nên loại hoặc ít nhất không dùng con đó làm giống nữa.
Thử đời con có thay được xét nghiệm ADN không?
Hai cách bổ sung cho nhau. Thử đời con phát hiện gen ẩn có ảnh hưởng tới ngoại hình mà không cần phòng thí nghiệm, nhưng chậm. Xét nghiệm ADN cho thông tin rộng hơn và nhanh hơn, nhưng cần cơ sở dữ liệu tham chiếu và chi phí, thường chỉ cơ sở giữ giống dùng.
Một hộ nuôi ít mái thì thử đời con thế nào cho đủ số con?
Có thể gom nhiều lứa của cùng cặp bố mẹ qua nhiều tháng, hoặc phối hợp với vài hộ cùng giữ giống để mỗi hộ thử một phần rồi gộp kết quả. Điều kiện là ghi chép thống nhất và đánh dấu rõ ràng từng con.
Có nên dùng con lệch trong đời con để nuôi thịt không?
Được. Con lệch giống vẫn là vật nuôi bình thường, có thể nuôi thịt hoặc bán thương phẩm. Điều cần tránh là để chúng lẫn lại vào đàn giống, vì gen lạ sẽ quay trở lại đàn ở các đời sau.
Thử đời con có phát hiện được cận huyết không?
Một phần. Đàn cận huyết thường có tỷ lệ trứng không nở, con dị tật, con yếu tăng lên, và những dấu hiệu này hiện ra khi theo dõi đời con. Tuy nhiên cách chính để tránh cận huyết là ghi phả hệ và thay đực từ nguồn cùng giống nhưng không cùng huyết thống gần.