GiongQuy.comGiống Quý
Gà nội quý

Gà Ri thuần là gà gì: đặc điểm giống, khả năng đẻ ấp và khác gì gà Ri lai

Gà Ri thuần là giống gà nội nhỏ con, mái vàng nâu, trống đỏ tía, mào cờ, chân vàng nhỏ, đẻ ấp khéo. Cách nhận ra gà Ri thuần và phân biệt với gà Ri lai.

A small brown hen leading a group of striped chicks through a bamboo grove behind a farmhouse in Thanh Hoa, seen from ground level, dappled light

Gà Ri thuần là giống gà nội nhỏ con, phổ biến lâu đời ở nông thôn miền Bắc và miền Trung, nổi bật ở khả năng tự kiếm mồi, đẻ đều hơn các giống gà nội vóc lớn, ấp và nuôi con rất khéo. Gà mái lông vàng nâu, cổ và đuôi điểm đen; gà trống lông đỏ tía, đuôi đen ánh xanh; cả hai có mào cờ răng cưa, chân nhỏ màu vàng. Tầm vóc nhỏ là đặc trưng: gà trưởng thành thường chỉ khoảng 1,5 đến 2,3 kg tuỳ trống mái.

Vì gà Ri thuần nhỏ và lớn chậm, nhiều nơi đã lai với gà lông màu nhập để có con lớn nhanh hơn, gọi chung là gà Ri lai. Bài này giúp bạn nhận đúng gà Ri thuần, hiểu vì sao giống nhỏ này lại đáng giữ, và những điều riêng khi nuôi.

Nhận dạng gà Ri thuần qua từng bộ phận

Bảng sau gom các đặc điểm thường được mô tả cho gà Ri trưởng thành. So sánh nên làm với gà đủ tuổi, vì gà tơ chưa lên đủ màu lông:

Bộ phậnGà trốngGà mái
LôngĐỏ tía, vàng đỏ ở cổ, lưng; đuôi đen ánh xanh, congVàng nâu, nâu nhạt; cổ có đốm hoặc viền đen; đuôi đen
MàoMào cờ, răng cưa rõ, đỏMào cờ nhỏ, đỏ
ChânNhỏ, vàng, không lôngNhỏ, vàng
DángGọn, nhanh nhẹn, ngực vừaNhỏ, thân tròn gọn
Tầm vóc thường gặpKhoảng 1,8 đến 2,3 kgKhoảng 1,2 đến 1,8 kg

Gà con Ri mới nở thường có lông tơ màu vàng nâu, nhiều con có sọc sẫm chạy dọc lưng. Đặc điểm này có ở nhiều giống gà nội và gà lai, nên chỉ là gợi ý. Điều dễ nhận nhất ở gà Ri là cảm giác "nhỏ mà lanh": gà đi nhanh, bay được lên cành thấp, bới đất kiếm mồi liên tục. Đặt một con gà Ri cạnh một con gà lông màu cùng tuổi, bạn sẽ thấy gà Ri nhỏ hơn nhiều nhưng di chuyển nhanh và cảnh giác hơn hẳn, nghe động là chạy hoặc bay lên chỗ cao.

Ba phẩm chất làm nên giá trị của gà Ri

Đẻ khá so với gà nội. Gà mái Ri thường được mô tả đẻ khoảng một trăm trứng mỗi năm trong điều kiện nuôi thả, cao hơn rõ rệt so với các giống gà nội vóc lớn như gà Hồ, gà Mía, gà Đông Tảo. Trứng nhỏ, vỏ màu nâu nhạt đến hồng nhạt.

Ấp và nuôi con khéo. Bản năng ấp của gà Ri rất mạnh, mái nằm ổ đều, ít làm vỡ trứng vì thân nhẹ, dẫn con đi kiếm ăn và che chở con tốt. Nhiều hộ dùng chính mái Ri để ấp trứng của các giống to con hay vụng ấp.

Chịu kham khổ, tự kiếm mồi. Gà Ri thích nghi tốt với nuôi thả vườn, sống được bằng thức ăn tự kiếm cộng một ít thóc, ngô. Khả năng chịu đựng thời tiết và điều kiện nuôi đơn giản là lý do giống này tồn tại bền ở nông thôn qua nhiều thế hệ.

Điểm yếu đi kèm. Gà nhỏ, lớn chậm, khối lượng thịt mỗi con thấp. Chính điểm yếu này khiến nhiều nơi lai gà Ri với giống lớn nhanh, dẫn tới đàn thuần ngày càng ít đi trong dân. Người giữ giống nên nhìn điểm yếu này như đặc điểm cần chấp nhận, không phải lỗi cần sửa bằng cách đưa máu lạ vào đàn. Muốn gà to hơn thì nuôi thêm một đàn lai riêng để lấy thịt, còn đàn Ri thuần giữ nguyên để làm gốc.

Gà Ri thuần và gà Ri lai khác nhau thế nào

"Gà Ri lai" là tên gọi rộng, thường chỉ con lai giữa gà Ri và các giống gà lông màu nuôi thịt. Con lai giữ một phần màu lông của gà Ri nên dễ gây nhầm. Những điểm khác thường thấy:

Điểm soGà Ri thuầnGà Ri lai thường gặp
Tầm vócNhỏ, gọnTo hơn rõ, thân dài, ức đầy
ChânNhỏ, thanhTo, thô hơn
MàoMào cờ vừa, cân đối với đầu nhỏMào to, dày
Tốc độ lớnChậmNhanh hơn nhiều
Tính cáchLanh lợi, bay nhảy, chạy nhanhChậm hơn, ít bay
Đẻ, ấpẤp khéo, nuôi con giỏiBản năng ấp thường kém hơn

Gà Ri lai không phải hàng giả: đó là một hướng sản xuất hợp lý cho người cần nuôi thịt nhanh. Vấn đề chỉ nảy sinh khi con lai được bán hoặc giữ như gà Ri thuần cho mục đích giữ giống. Ngoài ra, có các dòng gà Ri được cơ quan nghiên cứu chọn lọc theo hướng nâng năng suất mà vẫn giữ ngoại hình gần gà Ri; người mua nên hỏi rõ đó là dòng nào, chọn lọc ra sao.

Vì sao gà Ri thuần đáng giữ dù năng suất thịt thấp

Nhìn từ bảng cân, gà Ri thua mọi giống gà thịt hiện đại. Nhưng nếu nhìn từ một nông hộ nuôi thả, gà Ri có những điều mà giống năng suất cao không có: tự kiếm phần lớn thức ăn, ấp nở không cần máy, nuôi con không cần chụp sưởi, chịu được nắng nóng và gió rét của nông thôn Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ. Một đàn gà Ri tự duy trì được qua năm này năm khác với chi phí thấp, đó là giá trị khó thay thế.

Về nguồn gen, gà Ri là một trong những giống gà nội có số lượng lớn nhất trong dân, và vì thế từng được dùng làm vật liệu trong nhiều chương trình chọn tạo giống gà lông màu trong nước. Nhưng chính vì phổ biến nên người ta dễ chủ quan: tưởng gà Ri còn nhiều, thực tế phần lớn gà gọi là gà Ri ở chợ quê đã lẫn máu ở các mức khác nhau. Giữ một đàn gà Ri thuần có ghi chép là giữ lại điểm xuất phát cho mọi chương trình cải tiến sau này.

Điều riêng khi nuôi gà Ri để giữ giống

Gà Ri dễ nuôi, nhưng giữ giống thì khác nuôi thịt. Những lưu ý gắn với chính đặc điểm của giống:

  • Rào vườn cao hoặc có lưới. Gà Ri bay giỏi, dễ vượt rào thấp sang vườn hàng xóm, nơi có gà lai đang thả; một lần trống lạ sang là lẫn cả lứa trứng.
  • Sào đậu cao được. Khác gà vóc lớn, gà Ri thích ngủ trên cao, sào cao giúp gà an toàn khỏi chồn, chuột ban đêm.
  • Tận dụng mái Ri để ấp. Mái tự ấp, tự nuôi con giúp đàn giống duy trì tập tính tự nhiên, đồng thời giảm phụ thuộc vào máy ấp.
  • Không vỗ béo trống giống. Trống quá mập kém linh hoạt và phối kém; giữ trống gọn, vận động nhiều.
  • Chọn mái theo khả năng đẻ ấp. Ghi lại mái nào đẻ đều, ấp tốt, nuôi con khéo để ưu tiên lấy trứng làm giống.
  • Loại con to bất thường. Trong đàn Ri, con lớn hơn hẳn bạn cùng lứa thường là dấu hiệu lẫn máu, không phải gà tốt.

Các kỹ thuật chuồng trại, thức ăn, phòng bệnh chung của gà thả vườn nằm ở chuyên mục chăn nuôi nông hộ; phần trên chỉ là những gì khác đi khi mục tiêu là giữ đúng giống gà Ri.

Gà Ri ở các vùng: biến thể màu lông và tên gọi

Khác với gà Hồ hay gà Mía gắn với một làng, gà Ri phân bố rộng ở nhiều tỉnh miền Bắc và miền Trung, từ đồng bằng đến trung du. Vì sống ở nhiều nơi qua nhiều thế hệ, quần thể gà Ri có độ biến động màu lông nhất định: có đàn mái màu vàng đất sáng, có đàn nâu sẫm hơn, mức đốm đen ở cổ và đuôi cũng khác nhau. Những khác biệt nhỏ này là bình thường trong một giống nội phân bố rộng, không có nghĩa là đàn bị lai.

Tên gọi cũng không thống nhất. Có nơi gọi gà Ri là gà ta, gà cỏ, gà nhà, có nơi lại dùng tên gà Ri cho cả những con lai. Ngược lại, ở miền Nam, gà ta phổ biến nhất lại là gà Tàu Vàng, một giống khác hẳn. Vì vậy khi trao đổi giống với hộ ở vùng khác, đừng dựa vào tên gọi mà hãy mô tả cụ thể tầm vóc, màu lông, mào, chân, khả năng đẻ ấp.

Điều đáng giữ ở gà Ri không phải một màu lông chuẩn duy nhất mà là bộ đặc điểm chung: nhỏ, lanh, mào cờ, chân vàng nhỏ, đẻ khá, ấp khéo. Một đàn giữ được bộ đặc điểm này qua nhiều thế hệ là đàn gà Ri có giá trị giống.

Một năm giữ đàn gà Ri thuần: lịch gợi ý cho nông hộ

Lịch dưới đây là khung tham khảo cho một hộ giữ đàn gà Ri nhỏ, cần điều chỉnh theo thời tiết từng vùng:

  1. Đầu chu kỳ: rà lại đàn giống, loại con già yếu, con lệch chuẩn; kiểm tra sổ xem trống nào đã dùng quá lâu.
  2. Mùa thời tiết dịu: ghép trống mái theo sổ, để mái tự ấp những lứa trứng chọn từ mái tốt nhất.
  3. Khi gà con nở: ghi số con, để mái dẫn con trong khu riêng có che chắn khỏi chồn, rắn, chim săn mồi.
  4. Khi gà con lên gà dò: ghi đặc điểm từng con, tách sớm những con lớn khác thường hoặc lông lạ.
  5. Khi gà gần trưởng thành: chọn hậu bị thay đàn, chuyển phần còn lại sang nuôi thịt.
  6. Cuối chu kỳ: đổi một trống với hộ giữ gà Ri khác có nguồn gốc rõ, cập nhật sổ.

Nhịp một năm này đơn giản nhưng nhất quán. Gà Ri tự ấp, tự nuôi con nên công việc chủ yếu của người giữ giống là quan sát, ghi chép và chọn lọc, không phải can thiệp.

Khi nào cần gọi cán bộ thú y với đàn gà Ri

Gà Ri khoẻ, ít bệnh vặt, nhưng nuôi thả nên tiếp xúc nhiều với chim hoang, gà nhà khác và môi trường bên ngoài. Vì vậy các bệnh truyền nhiễm của gia cầm vẫn có thể vào đàn. Lịch phòng bệnh nên làm theo hướng dẫn của cán bộ thú y địa phương, phù hợp với tình hình dịch ở từng vùng.

Hãy gọi cán bộ thú y khi thấy gà chết rải rác hoặc chết nhiều trong thời gian ngắn, gà ủ rũ, xù lông, bỏ ăn, phân xanh hoặc phân trắng bất thường, mào tím tái, sưng đầu, khó thở. Khi nghi bệnh truyền nhiễm, cách ly ngay những con có biểu hiện, hạn chế người ra vào chuồng, không bán chạy hay đem gà đi nơi khác. Với một đàn giống, giữ được những con khoẻ còn lại quan trọng hơn cứu từng con bệnh.

Không tự ý dùng thuốc kháng sinh theo lời mách, vì dùng sai vừa không khỏi vừa che mất dấu hiệu giúp cán bộ thú y chẩn đoán. Ghi lại ngày bắt đầu có biểu hiện, số con mắc, số con chết để cung cấp khi được hỏi.

Câu hỏi thường gặp

Gà Ri và gà ta có phải là một không?

Gà ta là cách gọi chung các giống gà nội nuôi thả trong dân, gồm cả gà Ri, gà Tàu Vàng, gà Mía và nhiều giống khác. Gà Ri là một giống cụ thể trong nhóm gà ta, phổ biến ở miền Bắc và miền Trung.

Gà Ri đẻ trứng màu gì?

Trứng gà Ri thường nhỏ, vỏ màu nâu nhạt đến hồng nhạt. Màu vỏ trứng thay đổi theo từng con mái và giai đoạn đẻ, nên không dùng màu trứng để xác định gà thuần hay lai.

Có nên dùng gà mái Ri để ấp trứng gà Đông Tảo không?

Nhiều hộ làm như vậy vì mái Ri ấp khéo, ít làm vỡ trứng. Lưu ý mái Ri nhỏ nên chỉ ấp được số trứng to vừa phải, và gà con nở ra vẫn mang hoàn toàn đặc điểm của bố mẹ Đông Tảo, không bị ảnh hưởng bởi mái ấp hộ.

Làm sao biết gà Ri mua ở chợ có thuần không?

Một con gà ở chợ gần như không thể khẳng định thuần chỉ bằng mắt. Có thể loại trừ những con quá to, chân thô, mào dày. Muốn giữ giống thì nên tìm hộ hoặc cơ sở có đàn bố mẹ rõ ràng và ghi chép qua nhiều năm.

Gà Ri có nuôi nhốt được không?

Gà Ri nuôi nhốt được, nhưng giống này thích vận động, bay nhảy và tự kiếm mồi. Nuôi nhốt chật thường làm gà hay mổ nhau, giảm đẻ và mất dần tập tính ấp nuôi con, vốn là một phần giá trị của giống.

Gà Ri có phải giống đang được bảo tồn không?

Gà Ri là một trong những giống gà nội được các chương trình nghiên cứu và bảo tồn nguồn gen vật nuôi ở Việt Nam quan tâm, đồng thời được dùng trong chọn tạo giống mới. Tình trạng cụ thể nên tra từ cơ quan nghiên cứu chăn nuôi hoặc danh mục hiện hành của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.