GiongQuy.comGiống Quý
Lúa, nếp cổ truyền

Lúa cảm quang là gì: vì sao giống lúa cổ truyền chỉ cấy được vụ mùa

Lúa cảm quang trổ bông theo độ dài ngày, nên giống lúa cổ truyền chỉ hợp vụ mùa. Cơ chế, mức cảm quang, hệ quả cho người trồng và cách tự thử một giống.

Three adjacent paddies in the Red River Delta at different growth stages under evening light, one green, one flowering, one golden, a farmer silhouette on the dyke between them

Lúa cảm quang là giống lúa chỉ trổ bông khi độ dài ngày ngắn xuống dưới một ngưỡng nhất định; vì vậy dù gieo sớm hay muộn, cây vẫn trổ vào khoảng cùng một thời điểm trong năm, thường là cuối mùa mưa. Phần lớn giống lúa cổ truyền của Việt Nam, như nếp cái hoa vàng, tám xoan, nàng thơm Chợ Đào, lúa mùa nổi hay Một Bụi Đỏ, đều cảm quang ở các mức khác nhau, nên chúng gắn với vụ mùa và gần như không đưa sang vụ khác được.

Hiểu tính cảm quang là hiểu vì sao giống cổ cao cây, dài ngày, một vụ, và vì sao các giống chọn tạo mới lại trồng được hai, ba vụ. Bài này giải thích cơ chế ở mức người trồng cần, các mức cảm quang, hệ quả với việc giữ giống cổ, và một cách đơn giản để tự thử một giống có cảm quang hay không.

Cảm quang hoạt động thế nào

Cây lúa là cây ngày ngắn: nó chuyển từ giai đoạn sinh trưởng thân lá sang làm đòng, trổ bông khi đêm đủ dài, hay nói cách khác là khi ngày đủ ngắn. Lá lúa cảm nhận độ dài ngày, và khi số giờ chiếu sáng trong ngày giảm xuống dưới một ngưỡng gọi là độ dài ngày tới hạn, cây phát tín hiệu chuyển sang ra hoa. Ngưỡng này khác nhau giữa các giống.

Ở vùng nhiệt đới như Việt Nam, độ dài ngày thay đổi không nhiều trong năm, chỉ chênh vài chục phút đến hơn hai giờ tuỳ vĩ độ, càng lên phía Bắc càng chênh nhiều. Nhưng chỉ ngần ấy cũng đủ để giống cảm quang mạnh "đọc" được lịch: ngày dài trong mùa hè thì cây tiếp tục ra lá, đẻ nhánh; sang thu, ngày ngắn dần, cây đồng loạt làm đòng.

Giới nghiên cứu lúa thường tách thời gian sinh trưởng của một giống thành hai phần: giai đoạn sinh trưởng cơ bản, tức thời gian tối thiểu cây cần trước khi có thể ra hoa, và giai đoạn chịu ảnh hưởng của độ dài ngày. Giống cảm quang mạnh có phần thứ hai rất linh hoạt, kéo dài hay rút ngắn tuỳ ngày gieo. Giống không cảm quang thì gần như chỉ có phần cơ bản, nên cứ đủ số ngày là trổ, bất kể mùa nào.

Các mức cảm quang và giống tiêu biểu

Không phải giống cổ nào cũng cảm quang mạnh, và không phải giống mới nào cũng hoàn toàn không cảm quang. Bảng dưới chia theo mức để dễ hình dung.

MứcCách cây phản ứngNhóm giống thường gặpHệ quả thời vụ
Cảm quang mạnhChỉ trổ khi ngày ngắn dưới ngưỡng, gieo sớm hay muộn vẫn trổ gần cùng thời điểmNhiều giống lúa mùa địa phương, lúa nổi, lúa mùa ven biểnChỉ trồng được vụ mùa
Cảm quang yếuCó phản ứng với độ dài ngày nhưng thời gian trổ còn phụ thuộc ngày gieoMột số giống địa phương, một số giống chọn tạoLinh hoạt hơn nhưng vẫn có mùa hợp
Không cảm quangTrổ sau một số ngày gần cố định, gần như không phụ thuộc mùaPhần lớn giống lúa thuần, lúa lai ngắn ngày hiện nayTrồng được nhiều vụ trong năm

Bên cạnh cảm quang, nhiệt độ cũng ảnh hưởng tới thời gian sinh trưởng; người trồng miền Bắc quen dùng chữ "cảm ôn" để chỉ những giống mà thời gian sinh trưởng thay đổi rõ theo nhiệt độ, như vụ xuân rét kéo dài thì lúa chậm trổ. Hai khái niệm khác nhau: cảm quang là phản ứng với độ dài ngày, cảm ôn là phản ứng với nhiệt độ.

Vì sao giống lúa cổ truyền lại cảm quang

Trong hàng trăm năm trước khi có thuỷ lợi hiện đại, lúa ở đồng bằng và vùng núi Việt Nam chủ yếu dựa vào mưa và nước lũ. Thời điểm mưa bắt đầu mỗi năm một khác, có năm sớm, có năm muộn. Một giống trổ theo số ngày cố định sẽ trổ sai lúc nếu năm đó gieo muộn vì mưa muộn. Giống cảm quang thì không: dù gieo khi nào, nó vẫn trổ khi ngày ngắn lại vào cuối mùa mưa, lúc nước còn đủ cho hạt vào chắc và trời sắp khô để thu hoạch.

Người nông dân, qua nhiều thế hệ để giống từ những cây cho thu hoạch đều đặn, đã vô tình giữ lại tính cảm quang. Ở vùng lũ như An Giang, cảm quang giúp lúa nổi trổ khi lũ bắt đầu rút; ở ruộng lúa – tôm, nó giúp lúa chín trước khi lấy nước mặn vào. Cảm quang, vì vậy, là một đặc điểm thích nghi với lịch nước của từng vùng, không phải nhược điểm.

Đi kèm tính cảm quang thường là cây cao, thân dài, thời gian sinh trưởng dài trong vụ mùa. Cây cao giúp vượt nước ruộng sâu và cạnh tranh với cỏ trong điều kiện ít chăm sóc. Đổi lại, cây cao dễ đổ khi bón nhiều phân, và đây là một lý do khiến giống cổ không hợp với kiểu thâm canh nhiều phân bón.

Cảm quang có ý nghĩa gì với người trồng giống cổ

Không thể ép thêm vụ. Cấy giống cảm quang mạnh vào vụ xuân, ngày đang dài dần, cây có thể kéo dài sinh trưởng bất thường, trổ muộn hoặc trổ không đều. Muốn có thêm vụ, phải dùng giống khác.

Cấy sớm không làm chín sớm. Cấy sớm hơn lịch thường chỉ làm cây sống lâu hơn ngoài ruộng, cao hơn, dễ đổ hơn, mà vẫn trổ vào khoảng như ruộng cấy đúng lịch. Cấy quá muộn thì cây chưa đủ thân lá đã phải trổ, bông nhỏ.

Mang đi vĩ độ khác, lịch trổ lệch. Ngưỡng độ dài ngày của giống được chọn lọc ở vùng gốc. Đưa giống Bắc vào Nam hay ngược lại, thời điểm ngày ngắn xuống dưới ngưỡng khác đi, cây có thể trổ sớm, muộn hoặc không trổ đúng mùa. Đây là một lý do khiến giống cổ khó thành công khi rời xa vùng gốc.

Thời gian trổ là dấu hiệu nhận giống tốt. Vì ruộng giống cảm quang thuần trổ rất đồng loạt, những khóm trổ lệch hẳn gần như chắc chắn là cây lẫn. Người giữ giống có thể dùng điều này để khử lẫn hiệu quả.

Giống lẫn với giống không cảm quang dễ lộ. Nếu thóc giống nếp cổ lẫn hạt của giống ngắn ngày không cảm quang, những cây đó sẽ trổ sớm hẳn trong vụ mùa, nhìn từ bờ ruộng là thấy.

Đọc lịch vụ mùa các vùng qua tính cảm quang

Ở đồng bằng Bắc Bộ, vụ mùa truyền thống gieo mạ vào mùa hè, cấy khi mưa đã đều và gặt vào mùa thu. Những giống nếp, giống tám cổ truyền cảm quang trổ khi ngày đã ngắn rõ rệt, nên gần như cả cánh đồng giống cổ trổ cùng một khoảng thời gian, dù hộ này cấy sớm hơn hộ kia vài tuần. Người già trong làng hay nói lúa mùa "đến ngày thì trổ", một cách diễn đạt dân gian khá đúng về cảm quang.

Ở đồng bằng sông Cửu Long, lúa mùa địa phương gắn với mùa mưa và mùa lũ, thu hoạch vào khoảng cuối năm hoặc đầu năm sau. Vĩ độ thấp hơn nên độ dài ngày dao động ít hơn miền Bắc, nhưng các giống lúa mùa vùng này đã thích nghi với đúng biên độ đó, vẫn trổ đồng loạt theo mùa. Đây là lý do một giống lúa mùa Nam Bộ đưa ra Bắc, hoặc ngược lại, rất hay trổ lệch.

Ở vùng cao phía Bắc, chuyện thời vụ còn bị chi phối mạnh bởi nhiệt độ: mùa đông lạnh không cho trồng lúa, nên dù giống cảm quang hay không, ruộng bậc thang và nương thường chỉ làm một vụ. Khi đọc tài liệu về một giống lúa vùng cao, cần tách hai chuyện: giống chỉ trồng một vụ vì cảm quang, hay vì khí hậu không cho phép vụ thứ hai. Biết điều này giúp người trồng đánh giá đúng khi định đưa giống xuống vùng thấp ấm hơn.

Tự thử một giống lúa có cảm quang hay không

Khi nhận một giống lúa địa phương chưa rõ đặc tính, người trồng có thể tự làm một phép thử đơn giản trên vài khoảnh nhỏ. Phép thử này không thay khảo nghiệm chính thức, nhưng đủ để biết giống thuộc nhóm nào.

  1. Chia hạt giống thành ba phần, chuẩn bị ba khoảnh ruộng nhỏ hoặc ba hàng chậu lớn đặt cùng chỗ.
  2. Gieo phần thứ nhất vào đầu mùa mưa, phần thứ hai sau đó khoảng ba, bốn tuần, phần thứ ba sau thêm ba, bốn tuần nữa.
  3. Chăm sóc ba khoảnh như nhau: cùng loại đất, cùng nước, cùng lượng phân.
  4. Ghi ngày gieo và ngày trổ rộ của từng khoảnh, tức ngày khoảng một nửa số khóm đã trổ.
  5. So sánh: nếu ba khoảnh trổ gần nhau dù gieo cách nhau vài tuần, giống cảm quang mạnh; nếu ngày trổ cách nhau gần đều như ngày gieo, giống không cảm quang; ở giữa là cảm quang yếu.
  6. Ghi kết quả vào sổ giống cùng tên giống, nơi lấy, năm làm.

Kết quả có thể bị nhiễu bởi nhiệt độ, nhất là ở miền Bắc nơi có mùa lạnh. Làm lại thêm một năm giúp kết luận chắc hơn. Nếu cần đánh giá chính thức, cơ quan khảo nghiệm giống có quy trình riêng. Với nông hộ, chỉ cần biết giống thuộc nhóm nào là đủ để chọn đúng vụ.

Giống cổ cảm quang và giống mới không cảm quang: mỗi bên giữ được gì

Từ những năm 1960, các giống lúa thấp cây, ngắn ngày, không cảm quang, mở đầu bằng IR8 do Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI) phát hành năm 1966, đã thay đổi nghề trồng lúa châu Á. Ở Việt Nam, giống không cảm quang cùng thuỷ lợi giúp tăng số vụ trong năm. Các giống thơm chọn tạo gần đây như ST24, ST25 cũng thuộc nhóm ngắn ngày trồng được nhiều vụ. Mỗi nhóm giữ một giá trị khác nhau:

  • Giống không cảm quang: năng suất cao, thời vụ linh hoạt, đồng đều, thích hợp sản xuất hàng hoá lớn có thuỷ lợi.
  • Giống cổ cảm quang: thích nghi với lịch nước tự nhiên, ít đầu vào, gắn với những vùng và món ăn cụ thể.
  • Giống cổ là nguồn gen cho chọn giống mới: các tính trạng chịu ngập, chịu mặn, chịu hạn, mùi thơm thường được tìm ở giống địa phương.
  • Giống mới cần được thay hạt định kỳ theo cấp giống; giống cổ thường được giữ bằng tự để giống và khử lẫn.
  • Hai nhóm không loại trừ nhau: nhiều vùng trồng giống mới ở vụ chính và dành một ít ruộng cho giống cổ ở vụ mùa.

Với người muốn giữ giống cổ, hiểu tính cảm quang giúp đặt kỳ vọng đúng: đừng cố biến giống cổ thành giống nhiều vụ, mà giữ nó đúng mùa, đúng vùng của nó.

Câu hỏi thường gặp

Lúa cảm quang có trồng vụ đông xuân được không?

Với giống cảm quang mạnh thì thường không ổn. Vụ đông xuân ngày dài dần vào lúc cây cần trổ, nên cây có thể trổ muộn bất thường hoặc không đều. Giống cảm quang yếu có thể linh hoạt hơn, nhưng nên thử ở diện tích nhỏ trước.

Làm sao biết một giống lúa mua về có cảm quang không?

Hỏi người bán về thời vụ và thời gian sinh trưởng ở các vụ khác nhau. Giống trồng được ba vụ với số ngày gần như nhau là giống không cảm quang. Nếu chưa rõ, tự làm phép thử gieo lệch lịch trên vài khoảnh nhỏ như trong bài.

Cảm quang và cảm ôn khác nhau thế nào?

Cảm quang là phản ứng của cây với độ dài ngày, cảm ôn là phản ứng với nhiệt độ. Một giống có thể chịu ảnh hưởng của cả hai. Ở miền Bắc, rét kéo dài làm lúa chậm trổ là biểu hiện của cảm ôn, không phải cảm quang.

Có phải giống cổ nào cũng cảm quang?

Không. Phần lớn giống lúa mùa địa phương cảm quang ở mức nào đó, nhưng một số giống cổ, nhất là giống vụ chiêm hoặc giống ngắn ngày địa phương, cảm quang yếu hoặc gần như không. Mỗi giống cần được quan sát riêng.

Vì sao giống cảm quang hay cao cây và dễ đổ?

Giống cảm quang thường sống lâu ngoài ruộng trong vụ mùa nhiều nước, cây cao giúp vượt nước sâu và cạnh tranh với cỏ. Thân dài lại dễ đổ khi bón nhiều đạm hoặc gặp gió lớn. Hai đặc điểm thường đi cùng nhau ở giống lúa mùa.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.