GiongQuy.comGiống Quý
Lúa, nếp cổ truyền

Lúa nương Tây Bắc: các giống lúa cạn vùng cao, đặc điểm thích nghi và cách để giống

Lúa nương là lúa trồng cạn trên sườn đồi, sống nhờ nước mưa. Các giống lúa nương Tây Bắc, vì sao chịu hạn, mùa tra hạt và cách người vùng cao để giống.

Steep hillside of upland rice in Son La after rain, a Hmong farmer with a woven back basket stooping between scattered rice clumps, clouds drifting over ridges, wide angle

Lúa nương là lúa trồng cạn trên đất dốc vùng đồi núi, không giữ nước trong ruộng, sống chủ yếu nhờ nước mưa; ở Tây Bắc, người H'Mông, Thái, Dao, Khơ Mú và nhiều dân tộc khác giữ hàng chục giống lúa nương cả nếp lẫn tẻ, gieo bằng cách chọc lỗ tra hạt vào đầu mùa mưa và thu hoạch vào mùa thu. Điểm làm nên giá trị của lúa nương là khả năng chịu hạn, chịu đất nghèo và sự đa dạng giống rất lớn trong từng bản.

Bài này viết cho người muốn hiểu lúa nương như một nhóm giống: các giống trông ra sao, vì sao chúng chịu được điều kiện mà lúa nước không chịu nổi, lịch một vụ nương thế nào, và người vùng cao để giống ra sao. Phần món ăn từ nếp nương đã có nơi khác viết, ở đây không nhắc lại.

Lúa nương khác lúa nước ở đâu

Lúa nương và lúa nước cùng là cây lúa châu Á, nhưng được chọn lọc qua hàng trăm năm trong hai môi trường rất khác. Ruộng nước giữ một lớp nước suốt phần lớn vụ, rễ lúa sống trong đất ngập. Nương là đất dốc thoát nước nhanh, độ ẩm đất lên xuống theo từng trận mưa; cây phải tự tìm nước bằng bộ rễ. Vì thế các giống lúa nương mang những đặc điểm thích nghi riêng mà giống lúa nước thường không có.

Trong nghiên cứu, lúa trồng cạn thường được gọi là lúa cạn; ở Tây Nguyên và một số nơi còn gọi là lúa rẫy. Phần lớn giống lúa nương thuộc nhóm mà giới chọn giống gọi là japonica nhiệt đới, khác với phần lớn giống lúa nước đồng bằng thuộc nhóm indica; đây là xu hướng chung được nhiều nghiên cứu về lúa cạn châu Á ghi nhận, không phải quy tắc cho mọi giống trong một bản.

Năng suất lúa nương thấp và không ổn định vì phụ thuộc mưa. Đổi lại, lúa nương không cần công trình thuỷ lợi, gieo được nơi không làm được ruộng nước. Với nhiều bản vùng cao, đó từng là nguồn lương thực chính và vẫn là nguồn nếp cho các dịp lễ, Tết. Ở Tây Nguyên, lúa rẫy của người Ê Đê, Ba Na, Gia Rai, M'Nông cũng là một nhánh của cùng kiểu canh tác này, với bộ giống riêng thích nghi đất đỏ và mùa mưa của cao nguyên; bài này tập trung vào Tây Bắc, nhưng nhiều nguyên tắc giữ giống dùng chung được.

Một chữ "lúa nương", rất nhiều giống

Đi qua vài bản ở cùng một xã, bạn có thể gặp hàng chục tên giống lúa nương khác nhau. Người dân thường gọi theo những đặc điểm dễ thấy:

  • Theo tính nếp hay tẻ: nếp nương dùng đồ xôi, làm bánh; tẻ nương dùng nấu cơm hằng ngày. Nhiều hộ trồng cả hai trên cùng nương.
  • Theo màu vỏ trấu và màu gạo: vỏ vàng, vỏ nâu, vỏ có sọc; gạo trắng, gạo đỏ, gạo tím đen như nếp cẩm nương.
  • Theo hình dạng hạt: hạt to tròn, hạt dài, hạt có râu dài ở đầu.
  • Theo thời gian: giống sớm thu hoạch trước để kịp ăn mới, giống muộn chịu hạn giữa vụ tốt hơn.
  • Theo nơi lấy giống hoặc tên người, tên bản đã giữ giống, nên hai bản có thể gọi cùng một giống bằng hai tên, hoặc hai giống bằng một tên.

Sự đa dạng này không phải ngẫu nhiên. Trồng nhiều giống cùng lúc là cách người vùng cao chia rủi ro: năm hạn giữa vụ thì giống chịu hạn còn cho thu, năm mưa nhiều thì giống khác bù lại. Với người làm bảo tồn, đây là kho nguồn gen quý; với người mua giống, đây là lý do tên lúa nương ít khi là bằng chứng cho một giống cụ thể.

Nếu bạn muốn ghi lại giống lúa nương của một bản, hãy chụp ảnh bông và hạt bên cạnh một vật làm thước, ghi tên giống theo tiếng dân tộc và cách đọc, người giữ, năm lấy. Những ghi chép như vậy giúp người sau đối chiếu được, khi cái tên đã trôi đi nơi khác.

Vì sao lúa nương chịu được hạn và đất nghèo

Bộ rễ sâu và khoẻ. Nhiều giống lúa nương có rễ dài, mập, đâm sâu xuống các lớp đất còn giữ ẩm khi mặt đất đã khô. Đây là đặc điểm được các chương trình chọn giống lúa cạn chú ý nhiều nhất.

Cây cao, đẻ ít nhánh. Lúa nương thường cao cây, ít nhánh hơn lúa nước năng suất cao. Ít nhánh nghĩa là ít lá thoát hơi nước hơn, cây dồn sức cho số bông ít mà chắc.

Linh hoạt theo mưa. Một số giống có khả năng tạm ngừng sinh trưởng khi gặp đợt khô ngắn rồi phục hồi khi có mưa. Mức độ khác nhau rất nhiều giữa các giống, vì thế người dân chọn giống theo kinh nghiệm từng sườn đồi.

Ít đòi phân bón. Trên nương, người trồng gần như không bón phân hoá học, cây sống nhờ độ màu của đất. Giống lúa nương đã quen với điều kiện đó; ngược lại, giống lúa nước năng suất cao đặt lên nương mà không đủ nước, đủ phân thường cho kết quả kém.

Đánh đổi là năng suất. Mọi đặc điểm trên đều có giá: năng suất thấp hơn lúa nước nhiều lần trong điều kiện tốt. Lúa nương giỏi sống sót, không giỏi cho sản lượng cao.

Một vụ lúa nương diễn ra thế nào

Lịch cụ thể thay đổi theo độ cao, vĩ độ và từng năm mưa sớm hay muộn. Trình tự chung ở Tây Bắc thường như sau.

  1. Cuối mùa khô, dọn nương: phát cỏ, thu gom tàn dư cây vụ trước. Việc làm nương phải theo quy định quản lý đất đai, bảo vệ và phòng cháy rừng của địa phương; không phát rừng mới để làm nương.
  2. Chờ những trận mưa đầu mùa đủ làm ẩm đất, thường vào khoảng cuối xuân, đầu hè.
  3. Chọc lỗ tra hạt: một người cầm gậy chọc lỗ theo hàng ngang sườn dốc, người theo sau bỏ vài hạt vào mỗi lỗ rồi lấp nhẹ.
  4. Làm cỏ một đến vài lần trong vụ, việc tốn công nhất của lúa nương vì cỏ dại cạnh tranh nước rất mạnh.
  5. Theo dõi chim, chuột và thú phá hoại khi lúa vào chắc; nhiều nương dựng lán canh.
  6. Thu hoạch vào mùa thu bằng cách cắt hoặc tuốt từng bông, gùi về bản.

Chọc lỗ tra hạt giữ cho lớp đất mặt trên sườn dốc ít bị xáo trộn, giảm xói mòn so với cày xới. Nhưng canh tác lúa nương lâu năm trên đất dốc vẫn làm đất bạc màu, vì vậy nhiều nơi luân canh, để đất nghỉ hoặc trồng xen cây họ đậu.

Khi nào nên giữ giống lúa nương cũ, khi nào cần đổi

Giữ khi giống vẫn trổ đều và chịu được năm hạn. Một giống lúa nương qua nhiều năm vẫn cho thu hoạch ở cả năm mưa lẫn năm hạn là giống đã thích nghi tốt với sườn đồi đó. Đây là loại giống nên giữ nhất, kể cả khi năng suất năm tốt không cao bằng giống mới.

Giữ khi giống có công dụng riêng. Nếp dùng cho lễ, Tết, nếp cẩm làm xôi màu, tẻ nương làm cơm mới: nhiều giống mang giá trị văn hoá và bữa ăn mà giống năng suất cao không thay được. Mất giống là mất luôn món ăn gắn với nó.

Nghĩ đến đổi khi cây ngày càng yếu, lẫn nhiều. Nếu năm nào cũng thấy cây cao thấp lộn xộn, trổ lệch, hạt lép nhiều dù mưa thuận, có thể giống đã lẫn nặng hoặc nhiễm bệnh truyền qua hạt. Lúc đó, thay vì bỏ giống, hãy thử xin lại giống cùng tên từ bản khác hoặc từ nơi lưu giữ để làm mới.

Đổi giống mới phải thử từng mảnh. Giống lúa cạn chọn tạo mới có thể cho năng suất cao hơn trong điều kiện phù hợp, nhưng nương mỗi nơi một khác. Trồng một mảnh nhỏ cạnh giống cũ trong vài năm, xem năm hạn và năm mưa, rồi mới quyết định.

Đổi giống không có nghĩa là vứt giống cũ. Giữ lại một mảnh nhỏ hoặc một ít hạt giống cũ, dù không trồng đại trà nữa. Nhiều giống địa phương chỉ còn lại nhờ một vài hộ làm như vậy.

Người vùng cao để giống lúa nương ra sao

Ở nhiều bản, việc để giống lúa nương bắt đầu ngay trên nương. Khi thu hoạch, người trồng, thường là phụ nữ lớn tuổi trong nhà, chọn những bông đẹp, chín đều ở những khóm khoẻ, cắt riêng, bó thành lượm nhỏ. Những bó giống được cất nguyên bông trên gác bếp hoặc trong kho thóc nhà sàn, khói bếp và nhiệt giúp hạt khô và hạn chế mọt. Đến mùa tra hạt, mới tuốt ra.

Mỗi giống được cất riêng, nhiều nhà buộc các lượm bằng loại dây khác nhau hoặc treo ở các vị trí khác nhau để khỏi lẫn. Cách giữ giống này có ưu điểm là hạt nằm trong vỏ, trên bông nên ít bị hư hơn hạt rời; nhược điểm là phụ thuộc vào trí nhớ và kinh nghiệm của người giữ. Khi người già không còn làm nương, nhiều giống mất theo.

Ngoài ra, các bản thường trao đổi giống với nhau: xin một ít giống của bản bên khi thấy nương nhà họ năm đó tốt, hoặc đổi giống khi giống nhà mình kém đi. Trao đổi giữ cho quần thể giống đa dạng, nhưng cũng là lý do tên giống trôi theo người. Với người muốn giữ một giống cụ thể, việc ghi lại tên, đặc điểm và nơi lấy giống là điều nên làm thêm.

Lúa nương và lúa nước vùng cao: nhìn nhanh

Nhiều xã vùng cao có cả nương và ruộng bậc thang. Bảng dưới so sánh hai kiểu lúa trên cùng địa bàn để thấy vì sao giống lúa nương cần được giữ riêng.

Tiêu chíLúa nươngLúa nước ruộng bậc thang
NướcChỉ nhờ mưaCó nước dẫn từ khe suối
Cách gieoChọc lỗ tra hạt trên đất dốcLàm mạ rồi cấy
GiốngNhiều giống địa phương, đa dạng trong một nươngGiống địa phương hoặc giống mới, thường một giống mỗi thửa
Năng suấtThấp, lên xuống theo mưaCao hơn và ổn định hơn
Phân bónGần như không bónCó bón, nhiều hay ít tuỳ hộ
Rủi ro chínhHạn giữa vụ, cỏ dại, thú pháRét đầu vụ, lũ, vỡ bờ ruộng
Giá trị nguồn genRất cao, nhiều giống chịu hạn hiếmTuỳ giống

Khi một bản chuyển nương sang trồng ngô, sắn hay cây ăn quả, giống lúa nương không chuyển sang ruộng nước được mà mất hẳn. Đây là con đường mai một nhanh nhất của nhóm giống này. Các chương trình thu thập và lưu giữ nguồn gen trong nước đã có mẫu lúa nương; người dân muốn đóng góp hoặc xin lại giống có thể hỏi cơ quan nông nghiệp cấp tỉnh.

Câu hỏi thường gặp

Lúa nương có trồng được ở ruộng nước không?

Có thể mọc được, nhưng nhiều giống lúa nương cao cây, ít nhánh, không quen ngập nên dễ đổ và năng suất không tốt hơn giống lúa nước. Ngược lại, giống lúa nước đưa lên nương thường chịu hạn kém. Mỗi nhóm hợp với môi trường của nó.

Gạo nếp nương khác gạo nếp ruộng thế nào?

Khác ở giống và điều kiện trồng. Nếp nương thường hạt to, có giống vỏ màu, cây lớn nhờ nước mưa trên đất dốc. Người dùng hay nhận xét xôi nếp nương thơm và dẻo, nhưng mức độ khác nhau nhiều giữa các giống và các năm.

Muốn giữ một giống lúa nương của bản thì bắt đầu từ đâu?

Ghi lại tên giống, đặc điểm cây và hạt, nơi lấy giống, người đang giữ. Mỗi năm trồng một mảnh riêng, chọn bông đẹp để giống, cất riêng có đánh dấu. Có thể hỏi cơ quan nông nghiệp tỉnh để gửi mẫu vào chương trình lưu giữ nguồn gen.

Làm nương có bị cấm không?

Việc canh tác trên đất nương rẫy đã giao và việc phát, đốt thực bì chịu quy định về quản lý đất đai, bảo vệ và phòng cháy rừng. Quy định cụ thể khác nhau theo loại đất và địa phương, nên cần hỏi chính quyền xã và kiểm văn bản hiện hành trước khi làm.

Vì sao lúa nương lại dễ bị chim chuột phá hơn lúa ruộng?

Nương thường xa bản, nằm cạnh rừng và bụi rậm, nơi chim, chuột, thú nhỏ sinh sống. Lúa nương lại chín vào mùa thức ăn của chúng. Người trồng phải dựng lán canh, làm bù nhìn hoặc thu hoạch sớm từng phần.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.