Gà Tàu Vàng là giống gà nội phổ biến nhất ở Nam Bộ, thường được gọi chung là gà ta miền Nam: lông vàng rơm đến vàng đậm, gà mái điểm đốm đen ở cổ, cánh và đuôi, gà trống lông vàng đỏ với đuôi đen, mào cờ đỏ, chân vàng. Giống này nổi bật ở khả năng chịu nóng ẩm, tự kiếm mồi trong vườn và ấp nuôi con khéo; tầm vóc trung bình, lớn hơn gà Ri và nhỏ hơn các giống gà nội vóc lớn phía Bắc.
Chữ "Tàu" trong tên gọi không chứng minh giống có nguồn gốc nước ngoài; gốc gác thật của tên gọi chưa được xác định chắc chắn. Gà Tàu Vàng đã sống ở Nam Bộ qua nhiều thế hệ và mang những đặc điểm thích nghi riêng. Bài này đi vào nhận dạng, so sánh với gà lông màu nuôi thịt, và cách nông hộ giữ đàn gà Tàu Vàng không bị lẫn. Bài không bàn kỹ thuật chuồng trại, thức ăn chung cho gà thả vườn, vì phần đó thuộc chuyên mục chăn nuôi nông hộ.
Nhận dạng gà Tàu Vàng trưởng thành
Các đặc điểm thường được mô tả, chia theo trống và mái:
| Bộ phận | Gà trống | Gà mái |
|---|---|---|
| Lông | Vàng đỏ, vàng cam ở cổ và lưng; đuôi đen ánh xanh | Vàng rơm, vàng đậm; đốm hoặc viền đen ở cổ, cánh, đuôi |
| Mào | Mào cờ, đỏ, răng cưa rõ | Mào cờ nhỏ |
| Chân | Vàng, chắc | Vàng, nhỏ hơn |
| Da | Vàng | Vàng |
| Tầm vóc thường gặp | Khoảng 2 đến 2,5 kg | Khoảng 1,6 đến 2 kg |
Số cân là mức tham khảo theo mô tả giống, đàn nuôi thả trong vườn có thể nhẹ hơn. Một số cá thể gà Tàu Vàng có ít lông ở ống chân; đây là biến dị gặp trong quần thể, không phải dấu hiệu lai. Điều đáng chú ý ở gà Tàu Vàng là sự đồng đều về tông vàng của đàn: đàn thuần thường có màu khá thống nhất, còn đàn lai hay xuất hiện nhiều con trắng, đen, hoa mơ. Gà con Tàu Vàng mới nở thường có lông tơ vàng, nhiều con có vệt sẫm trên lưng; ở giai đoạn này chưa thể tách gà thuần với gà lai, nên mọi đánh giá về màu lông nên để tới khi gà thay lông trưởng thành.
Vì sao gà Tàu Vàng hợp khí hậu Nam Bộ
Nam Bộ nóng quanh năm, mùa mưa ẩm kéo dài, mùa khô nắng gắt. Gà Tàu Vàng sống trong điều kiện này qua nhiều thế hệ nuôi thả, nên những con chịu nóng kém, dễ bệnh trong mùa mưa đã bị loại dần một cách tự nhiên. Kết quả là một giống gà có sức chịu đựng tốt với khí hậu nóng ẩm, ăn được nhiều loại thức ăn sẵn có trong vườn như côn trùng, giun, hạt rơi, tấm cám.
Tầm vóc trung bình cũng là một lợi thế: gà không quá nặng nên vận động nhiều, không bị các vấn đề chân như gà vóc lớn; cũng không quá nhỏ như gà Tre nên vẫn cho lượng thịt hợp với bữa ăn gia đình. Lông vàng sáng phản xạ nắng tốt hơn lông sẫm, đây là một giả thuyết thường được nhắc, chưa phải kết luận đã được đo đạc kỹ cho riêng giống này.
Khi so với gà lông màu nuôi công nghiệp, gà Tàu Vàng lớn chậm hơn nhiều, nhưng ít đòi hỏi chuồng trại, thức ăn và thuốc men. Với nông hộ nuôi vài chục con trong vườn, đây là sự đánh đổi hợp lý. Còn với người giữ giống, sức chịu đựng này là thứ đáng giữ nhất, vì nó được hình thành qua rất nhiều thế hệ và mất đi rất nhanh khi đàn bị pha máu giống nhập.
Một ngày của đàn gà Tàu Vàng trong vườn: tập tính cần biết
Nhìn đàn gà Tàu Vàng thả vườn qua một ngày sẽ hiểu vì sao giống này dễ nuôi. Sáng sớm, gà rời chỗ ngủ, tản ra kiếm mồi dọc mương, gốc cây, bãi cỏ. Khi nắng lên gắt, gà tự tìm bóng râm dưới tán chuối, tán dừa, nằm bới đất tắm bụi để làm sạch lông và giảm nhiệt. Chiều mát, gà tiếp tục kiếm ăn rồi tự về chuồng khi trời sẩm tối.
Tập tính tắm bụi, tìm bóng mát và kiếm mồi rải rác là một phần của giống chứ không phải thói quen vặt. Đàn gà Tàu Vàng nuôi nhốt hoàn toàn trên nền xi măng sẽ mất cơ hội thể hiện các tập tính này, dễ stress, mổ nhau và kém đẻ hơn. Người giữ giống nên dành cho đàn một khoảng vườn có đất, có bóng cây, kể cả khi diện tích không lớn.
Gà Tàu Vàng không bay cao như gà Tre nhưng vẫn lên được cành thấp, rào thấp. Khu vườn có hàng xóm nuôi gà lai thì cần rào kín hơn, nếu không trống lạ rất dễ sang ghé đàn.
Khả năng đẻ, ấp và nuôi con
Đẻ vừa phải. Gà mái Tàu Vàng đẻ theo từng đợt, sau mỗi đợt thường đòi ấp. Sản lượng một năm ở mức vừa phải của gà nội, không thể so với gà đẻ chuyên trứng. Trứng cỡ vừa, vỏ màu nâu nhạt.
Bản năng ấp mạnh. Mái nằm ổ đều, ít bỏ ổ, trở trứng tốt. Đây là lý do nhiều hộ ở Nam Bộ dùng mái Tàu Vàng ấp cả trứng gà giống khác.
Nuôi con giỏi. Mái dẫn con đi kiếm mồi, che con khi mưa, cảnh giác với chim săn mồi. Gà con được mẹ nuôi thường quen với vườn và tự lập sớm, biết né thú săn mồi và tìm chỗ trú mưa từ khi còn nhỏ.
Đánh đổi với số trứng. Mỗi lần ấp và nuôi con, mái ngừng đẻ một thời gian dài. Nếu lấy trứng ra ấp máy để mái đẻ lại sớm hơn, đàn có thể dần mất bản năng ấp qua nhiều thế hệ, điều người giữ giống nên cân nhắc. Cách dung hoà nhiều hộ dùng là cho phần lớn mái tự ấp, chỉ ấp máy một phần trứng khi cần tăng số gà con trong mùa thuận.
Gà Tàu Vàng thuần và gà lông màu, gà lai thường gặp
Ở chợ quê và trong các trại nhỏ, gà vàng có rất nhiều loại. Bảng dưới giúp phân biệt ở mức đặc điểm thường thấy:
| Điểm so | Gà Tàu Vàng thuần | Gà lông màu nuôi thịt, gà lai |
|---|---|---|
| Tốc độ lớn | Chậm | Nhanh hơn rõ |
| Dáng | Thân gọn, chân vừa, nhanh nhẹn | Thân dài, ngực đầy, chân to, chậm hơn |
| Màu lông đàn | Tông vàng khá đồng đều, mái đốm đen cổ | Vàng đều kiểu công nghiệp hoặc lẫn nhiều màu |
| Bản năng ấp | Mạnh | Thường yếu hơn |
| Khả năng tự kiếm mồi | Tốt | Kém hơn, phụ thuộc thức ăn công nghiệp |
Nhiều giống gà lông màu nhập và gà lai có màu vàng rất giống gà Tàu Vàng, nhất là khi còn nhỏ. Dấu hiệu đáng tin là tốc độ lớn, dáng và hành vi khi thả vườn. Một con "gà ta" chỉ sau thời gian ngắn đã to bằng gà trưởng thành, ít đi kiếm mồi, thường là gà lai. Ví dụ giả định: hai con gà con cùng nở một ngày, sau vài tháng một con đã nặng gần gấp đôi con kia dù ăn cùng máng; khả năng cao con lớn nhanh mang máu giống thịt.
Chọn trống và mái làm giống: nhìn vào đâu
Trống: màu lông và dáng đi. Trống tốt có lông cổ, lưng vàng đỏ óng, đuôi đen ánh xanh, mào cờ đỏ dựng đều. Dáng đi nhanh nhẹn, ngẩng cao, hay gáy, hay gọi mái khi tìm thấy mồi. Trống chậm chạp, nặng nề hơn hẳn bạn cùng lứa thường mang máu gà lông màu.
Trống: chân và ngón. Chân vàng, thẳng, chắc, ngón không cong vẹo. Trống chân yếu, đi lệch không nên giữ vì đàn giống cần trống khoẻ phối được nhiều năm.
Mái: màu lông và đốm cổ. Mái vàng rơm hoặc vàng đậm, đốm đen ở cổ, cánh và đuôi rõ. Mái lông trắng, đen tuyền hay hoa mơ đậm nên để nuôi thịt.
Mái: hành vi đẻ ấp. Theo dõi một mùa xem mái nào đẻ đều, nằm ổ ấp đủ ngày, nuôi con khéo. Đó là những mái nên lấy trứng làm giống, vì bản năng ấp cũng di truyền một phần qua các thế hệ.
Giữ đàn gà Tàu Vàng thuần trong vườn nhà
Gà Tàu Vàng phổ biến nên dễ tìm, nhưng cũng vì phổ biến mà dễ lẫn. Các bước giữ đàn cho hộ nhỏ:
- Chọn nguồn giống từ những hộ nuôi gà Tàu Vàng thả vườn lâu năm, không mua gà lông màu về thả chung.
- Chọn trống lông vàng đỏ, đuôi đen, mào cờ đều, dáng gọn nhanh nhẹn; mái lông vàng có đốm đen cổ, đẻ và ấp tốt.
- Giữ hai đến ba trống để luân phiên, ghi sổ trống nào phối với nhóm mái nào.
- Để mái tự ấp những lứa giống, giữ bản năng ấp nuôi con của đàn.
- Theo dõi gà con đến khi lên lông trưởng thành, loại những con lớn nhanh bất thường hoặc lông lạ màu.
- Định kỳ đổi trống với hộ giữ gà Tàu Vàng khác để tránh cận huyết.
Nguyên lý số lượng tối thiểu và tránh cận huyết được trình bày ở danh mục giữ giống tại nông hộ. Với gà Tàu Vàng, điều cần nhất là kỷ luật không thả chung với gà lai, vì gà lai rất sẵn trong vùng. Một đàn nhỏ chừng vài chục con, chọn lọc đều tay mỗi năm, sau vài thế hệ sẽ có màu lông và dáng đồng đều thấy rõ, đó là dấu hiệu bạn đang đi đúng hướng.
Tình trạng giống và khi nào cần cán bộ thú y
Gà Tàu Vàng vẫn được nuôi rộng rãi ở Nam Bộ, nhưng phần lớn đàn trong dân đã pha máu ở các mức khác nhau với gà lông màu nhập. Một số trường đại học, viện nghiên cứu nông nghiệp phía Nam từng nghiên cứu và chọn lọc gà Tàu Vàng; thông tin về đàn giống có kiểm soát hiện nay nên hỏi trực tiếp các đơn vị này hoặc cơ quan nông nghiệp địa phương.
Nuôi thả trong vùng sông nước, gà tiếp xúc với chim hoang và thuỷ cầm, nên các bệnh truyền nhiễm của gia cầm luôn là mối lo. Lịch phòng bệnh làm theo hướng dẫn của thú y địa phương. Hãy gọi cán bộ thú y khi gà chết nhiều trong thời gian ngắn, ủ rũ, xù lông, mào tím tái, sưng đầu, khó thở, phân bất thường. Cách ly gà nghi bệnh, hạn chế người lạ vào chuồng và không bán chạy gà bệnh.
Mùa mưa là thời điểm gà dễ mắc bệnh đường ruột và hô hấp do chuồng ẩm. Giữ nền chuồng khô, thay độn lót ướt, che chắn mưa tạt là những việc phòng bệnh đơn giản nhưng hiệu quả, trước khi phải nhờ tới cán bộ thú y.
Câu hỏi thường gặp
Gà Tàu Vàng có phải gà ta không?
Ở Nam Bộ, gà ta thường được hiểu chủ yếu là gà Tàu Vàng và các con lai gần với nó. Gà ta là cách gọi chung các giống gà nội, còn gà Tàu Vàng là một giống cụ thể trong nhóm đó.
Vì sao gọi là gà Tàu Vàng?
Chữ "vàng" chỉ màu lông đặc trưng. Còn chữ "Tàu" có nhiều cách giải thích khác nhau và chưa có nguồn xác nhận chắc chắn về nguồn gốc tên gọi. Dù tên gọi thế nào, giống đã thích nghi với Nam Bộ qua nhiều thế hệ.
Gà Tàu Vàng khác gà Ri thế nào?
Gà Tàu Vàng to hơn gà Ri, lông vàng sáng hơn, phổ biến ở Nam Bộ; gà Ri nhỏ hơn, lông mái vàng nâu, phổ biến ở miền Bắc và miền Trung. Hai giống đều đẻ ấp khéo và chịu kham khổ.
Gà Tàu Vàng có chân lông không?
Phần lớn gà Tàu Vàng có chân vàng trơn, một số cá thể có ít lông ở ống chân. Đặc điểm này gặp trong quần thể và không đủ để kết luận gà thuần hay lai.
Nuôi gà Tàu Vàng ở miền Bắc có được không?
Được, gà vẫn giữ đặc điểm giống nếu đàn không lẫn. Cần lưu ý mùa đông miền Bắc lạnh hơn nhiều so với Nam Bộ, nên chuồng phải kín gió, nhất là khi nuôi gà con.
Làm sao giữ bản năng ấp của gà Tàu Vàng?
Nên để mái tự ấp và nuôi con ở những lứa lấy giống, chọn giữ những mái ấp tốt. Nếu luôn ấp máy và chọn theo số trứng, qua nhiều thế hệ đàn có thể mất dần bản năng ấp.